Trên đại lộ có một quán cà phê Mars, do người Do Thái gốc Tô Châu mở. Nhân viên phục vụ là một cô gái trẻ, gương mặt tròn trịa, lúc nào cũng tươi cười, chẳng biết vui vì điều gì, nói giọng Tô Châu ngọt lịm như thể cổ họng được rót đầy kem sữa.
Mỗi khi đến khoảng hai, ba giờ chiều, quán vắng khách, thường ngày cô gái ấy sẽ tắt bớt mấy dãy đèn. Hôm nay có hai vị khách, cô bật hết đèn lên, nhưng vẫn toát ra vẻ quạnh quẽ.
Anh Trân vừa ngồi xuống chiếc bàn sát cửa sổ thì cảm thấy bên ngoài ánh sáng mang một sắc vàng khô cháy rực rỡ. Đến khi thật sự nhìn ra, cô mới phát hiện trời âm u. Thứ cô cảm thấy sáng ấy, thực ra đến từ hai hàng cây ngô đồng Anh ven đường. Vừa qua Trung thu, những chiếc lá to bằng bàn tay rơi xuống từng mảng lớn, phủ kín mặt đất, vàng óng rực rỡ, lớp này chồng lên lớp kia, dày xốp, mang theo một cảm giác nặng nề, như một tòa lầu bằng lá sắp nhổ bật khỏi mặt đất, rồi lại bị bước chân người qua đường vội vã giẫm nát thành hư không.
Trước mắt Anh Trân bỗng tối sầm lại, Mỹ Quyên đã ngồi xuống. Vừa rồi cô đứng trước quầy kính chọn bánh ngọt, loại nào trông cũng tinh xảo, muốn gọi món quen đã ăn rồi, lại muốn thử cái mới, vì thế do dự khá lâu.
Nhân viên đến hỏi gọi món gì, Anh Trân nói: “Hai ly cà phê, hai phần bánh kem hạt dẻ.”
Bình thường cô sẽ không hào phóng đến vậy, nhưng lát nữa bà Triệu đến, thể diện vẫn phải giữ.
Mỹ Quyên được đà lấn tới: “Con muốn ăn bánh siffeni chocolate.”
Anh Trân giả như không nghe thấy, vẫn nói: “Chỉ hai phần bánh kem hạt dẻ!”
Mỹ Quyên bĩu môi, nhân viên cười hì hì: “Bánh siffeni chocolate cũng ngon lắm đó ạ!”
Anh Trân có phần mất kiên nhẫn: “Không ngon thì có trả được không?”
Nhân viên lắc đầu, cười rồi rời đi.
Mỹ Quyên bắt đầu giận dỗi, không muốn nói chuyện, mặt không biểu cảm, cúi đầu cạy móng tay.
Một tiểu thư được giáo dưỡng đàng hoàng nào lại cạy móng tay giữa chốn đông người! Anh Trân định mắng con, nhưng lại nhịn xuống. Giờ không phải ở nhà, bà Triệu sắp tới rồi, cô vẫn hy vọng mình và Mỹ Quyên có thể biểu hiện ra bộ dạng mẹ con hòa thuận.
Cô nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc, đến khi có một người ăn xin đứng ngoài kính cũng nhìn chằm chằm vào cô, mới thu ánh mắt lại, rơi lên người Mỹ Quyên, cố gắng dùng giọng ôn hòa nói: “Trước mặt bà Triệu, đừng cạy móng tay nữa.”
Mỹ Quyên không ngẩng mắt, ậm ừ một tiếng, đưa đầu ngón tay lên miệng, hé môi dùng răng mài mấy cái, lộ ra vẻ ngỗ nghịch bất kham.
Anh Trân chỉ thấy hai má nóng bừng, máu dồn lên mặt. Biết rõ con bé là cố ý chọc tức cô, vậy mà cô vẫn mắc bẫy! May mà đúng lúc này nhân viên mang cà phê nóng cùng bánh ra.
Uống hai ngụm cà phê, cô mới dần bình tĩnh lại, liếc nhìn Mỹ Quyên qua hàng mi. Đứa trẻ này từ lúc sinh ra đã ngày càng giống cha nó, chẳng thừa hưởng được từ cô nửa phần dung mạo.
Ngay cả tính cách cũng có xu hướng giống hệt.
Điều đó khiến cô thất vọng đến cực điểm, kéo theo tình cảm dành cho Mỹ Quyên cũng trở nên nhạt nhẽo, không lạnh lùng mà cũng chẳng thân thiết.
Chuông gió trước cửa quán leng keng vang lên không ngớt, có người bước vào.
“Chị à!”
“Ôi! Bà Triệu!” Anh Trân đặt ly cà phê xuống, đứng dậy, nghiêng mặt cười thân thiết chào hỏi, nửa khuôn mặt còn lại thì hung dữ nhìn về phía Mỹ Quyên. Mỹ Quyên đặt chiếc thìa bạc nhỏ xuống, miễn cưỡng đứng lên, gọi một tiếng: “Dì ạ.”
Bà Triệu vội cười đáp: “Đây là Mỹ Quyên à!”
Rồi lại quay sang Anh Trân nói: “Chị cứ gọi em như trước kia là em đi, gọi bà Triệu nghe xa lạ quá.”
Nghe đến bốn chữ “như trước kia”, trong lòng Anh Trân như bị ong chích một cái, nhưng rất nhanh đã che giấu đi. Cô mỉm cười nói: “Cung kính không bằng tuân mệnh.”
Vừa nói vừa hờ hững giơ cánh tay lên, chiếc vòng ngọc bích khẽ lay động: “Em à, mời ngồi.”
Bà Triệu ngồi xuống bên cạnh Anh Trân. Nhân viên lại đến hỏi gọi gì, Anh Trân theo thói quen gợi ý: “Bánh kem hạt dẻ ở đây cũng được lắm, vị ngọt dịu.”
Trước khi lấy chồng, cô và bà Triệu thường quấn quýt bên nhau, là bạn thân thiết. Lại thêm gia thế của cô hiển hách hơn, nên chuyện gì bà Triệu cũng nghe theo cô, nói là cúi đầu răm rắp cũng không quá.
Bà Triệu không tỏ rõ thái độ, chỉ “ừ” một tiếng, rồi ngẩng đầu nói với nhân viên: “Một ly cà phê, một phần bánh siffeni chocolate.”
Anh Trân từng cười chê bà là cổ ngắn, nhưng lúc này lại phát hiện cổ bà dường như đã phát triển lần hai. Chiếc sườn xám cổ đứng tròn ngày trước không dám mặc giờ cũng đã khoác lên người, cổ áo dựng cao ít nhất một tấc, viền xanh biếc, còn để lộ nửa đoạn cổ trắng ngọc. Hai người đều là người Tô Châu, làn da trắng như bánh nếp nước, trắng mà ánh lên sắc xanh nhàn nhạt.
Đợi nhân viên rời đi, bà Triệu mới cười với Anh Trân: “Chị nên thử bánh siffeni chocolate của họ đi. Trước kia em cũng chỉ ăn bánh hạt dẻ thôi, là bà Mã nhắc em đấy, bảo ăn bánh hạt dẻ là lỗi thời rồi.”
Chồng của bà Mã là tư lệnh Sở Dân chính. Mấy năm trước khi chồng Anh Trân còn làm quan, cô từng gặp bà ta vài lần trong các buổi tụ họp của các phu nhân, thời thượng, kiêu kỳ, rất ít khi để mắt đến người khác.
“Em biết chị là người nặng tình, lại hoài cựu nhất. Bánh hạt dẻ ăn quen rồi thì không thích đổi sang món khác.”
Anh Trân nói vậy để giải thích rằng cô không phải lạc hậu, mà là do tính cách.
Bà Triệu hừ nhẹ một tiếng không rõ ràng, ánh mắt thoáng lóe lên một ý vị khó đoán.
Anh Trân lập tức nói: “Em đừng nghĩ nhiều!”
Nói xong lại thấy hối hận, nghe như che giấu điều gì đó.
Lúc này cô thà để bà Triệu nghĩ rằng cô đã lạc hậu còn hơn.
Tiếng thìa bạc chạm vào bát sứ lanh canh, càng khiến thần kinh cô thêm nhức nhối. Cô cau mày nhìn sang Mỹ Quyên, khuôn mặt phồng lên vì giận, chỉ vì một miếng bánh siffeni chocolate mà tủi thân đến mức sắp khóc.
Chỉ có chút tiền đồ ấy thôi sao! Dẫu gì cũng mười tám tuổi rồi, mấy năm ở trường học chỉ biết lêu lổng, chẳng thấy tiến bộ gì, tầm mắt nông cạn, y hệt cha nó.
Bà Triệu cũng nghiêng đầu quan sát Mỹ Quyên, rồi lại nhìn sang Anh Trân, cằm khẽ nhúc nhích, cười nói: “Mỹ Quyên trông không giống chị lắm.”
Anh Trân cũng cười theo: “Không chỉ là không giống, mà là hoàn toàn không giống. Em xem chị lúc chưa lấy chồng, một bím tóc to vừa đen vừa dày, không thoa chút dầu hoa quế lên thì bông xù như đám mây. Còn nó thì sao, hai bím cộng lại còn không bằng một bím của chị, ép sát da đầu, mỏng dính. Gọi nó là con bé tóc vàng cũng chẳng sai.”
Mỹ Quyên lầm bầm trong cổ họng một câu: “Tóc nhiều thì có gì hay ho, suốt ngày làm nghẹt miệng cống, kéo một cái là rụng cả nắm, nhìn đã thấy ghê!”
Anh Trân tiếp lời than phiền: “Em nhìn mắt nó xem, mí đơn, tròng mắt xám nâu, đuôi mắt lại xếch ngược vào tận thái dương, trông vừa kỳ vừa quái.”
Bà Triệu cười nói: “Dẫu không được rực rỡ như mắt phượng của chị, nhưng mắt con bé lại có mấy phần giống người Tây.”
Mỹ Quyên đáp: “Cha con nói bà cố là người Liên Xô, mấy đời trước chẳng sao cả, đến đời con thì lại phản tổ, chuyện này trách con sao được.”
Anh Trân giọng đầy mỉa mai: “Người Tây mũi cao thẳng, sao mũi con lại như chất một tép tỏi lên đó thế kia.”
Mỹ Quyên không chịu thua: “Mũi chủ về tiền đồ, mũi tỏi là tướng phúc bẩm sinh. Mũi mẹ cao thẳng thì được ích gì, mẹ chẳng phải ngày nào cũng than số khổ đó sao!”
Bà Triệu bật cười phì một tiếng: “Hai người tuy không giống nhau về dung mạo, nhưng cái kiểu cô một câu tôi một câu, lanh mồm lanh miệng thế này, thì đúng là mẹ ruột con ruột thật.”
Rồi bà quay sang Anh Trân thở dài, chỉ vào Mỹ Quyên nói: “Chị xem cái dáng vẻ hoạt bát này của nó, so với chị lúc mười bảy tuổi thì có khác gì đâu!”
Anh Trân im lặng giây lát, lấy ví ra, rút hai tờ tiền giấy đưa cho Mỹ Quyên: “Con về nhà trước đi.”
Mỹ Quyên đang mong được rời đi sớm, liền nhận lấy tiền, uống nốt chút cà phê còn lại, vui vẻ chào bà Triệu một tiếng, rồi như chim sổ lồng, tung tăng bay mất.
