Buồng hạng hai của con tàu chở khách thuộc hãng Thái Cổ tuy khá rộng rãi, nhưng trang thiết bị thì đơn giản. Dưới cửa sổ đặt hai chiếc trường kỷ song song, ở giữa kẹp một chiếc bàn góc cạnh đã được mài tròn thành dáng cong. Trên mặt bàn trải một tấm khăn lanh hoa vụn màu xám sẫm, bốn phía buông xuống những dải tua dài thườn thượt.
Trường kỷ bọc da, còn màu sắc thì Trúc Quân đoán rằng ban đầu hẳn là màu tím hoa hồng nước Anh. Qua bao năm tháng, lớp da ấy phai dần, biến thành thứ đỏ cao su nửa cũ nửa mới.
Chính giữa ghế có hai vệt đỏ nhạt, không đậm nhưng lại rất bắt mắt, là dấu vết mông người ngồi lâu cọ xát mà thành, tròn và loang ra ngoài, mềm nhũn, trũng xuống.
Trúc Quân thấy cũng buồn cười. Khi ngồi xuống, trong lòng nảy sinh chút phản kháng, cố ý muốn tránh đi, không muốn trở thành một trong muôn ngàn người giống nhau.
Nhưng rất nhanh, cô đã từ bỏ.
Bởi vì đó quả thực là vị trí tốt nhất.
Phu khuân vác mang tới chiếc vali da lớn, còn cô tự ôm trong lòng một chiếc nhỏ.
Cô kéo khoá, lấy ra một bình nước, thêm một nải chuối và một hộp cơm, chẳng mấy chốc đã bày kín cả mặt bàn.
Lúc này cô mới phát hiện, khăn trải bàn không phải vốn dĩ màu xám sẫm, màu nguyên thủy của nó hẳn là trắng như tuyết hoặc vàng ngà.
Trên vách khoang đóng một hàng móc đồng, cô treo chiếc khăn bông mới lên đó, rồi cũng tháo khăn choàng cổ treo lên. Khăn choàng quá dài, cô còn phải tự tay quấn thêm mấy vòng.
Thu xếp xong hành lý, cô định ra ngoài khoang rửa tay. Nhưng nơi này không giống khoang hạng nhất có phòng vệ sinh riêng, mà phải dùng chung với người khác. Hành lang lại hẹp, đúng lúc hành khách kéo vali lớn nhỏ lên tàu tìm khoang, ai nấy đều cực kỳ khó chịu với những người đi ngược chiều chắn lối.
Nghĩ một chút, cô lại thôi.
Lúc ấy, Trúc Quân đứng bên cửa sổ nhìn ánh hoàng hôn rơi trên boong tàu, trong lòng dâng lên một nỗi bùi ngùi, như thể lại quay về ba năm trước.
Khi đó, cô cũng từng đứng như vậy, nhìn vầng tà dương rực lửa.
Cảnh cũ không đổi, chỉ có tâm cảnh đã hoàn toàn khác.
Hương tuyến trong lư đồng cháy hết, làn khói cuối cùng lượn lờ bay lên. Ánh sáng nhạt xuyên qua khe cửa sổ sơn đỏ sậm, khiến căn phòng nửa sáng nửa tối.
Không khí lạnh lẽo ập thẳng vào gò má Trúc Quân, mồ hôi thấm vào những sợi tóc tơ rối ở bên mai.
Ánh mắt cô dừng lại nơi một hàng tua rèm màu tuyết lý thanh rủ xuống từ đỉnh màn sa. Những dải tua ấy lay động theo nhịp điệu của người đàn ông bên cạnh, lúc dày lúc thưa, lúc nhanh lúc chậm, khiến trước mắt cô hoa lên.
Đám hầu đã dậy cả, tiếng nói chuyện, tiếng quét dọn, tiếng đổ nước rửa mặt, tiếng bồn cầu xả nước ầm ầm, còn thấp thoáng cả tiếng mèo kêu chó sủa.
Cô bắt đầu đẩy vào ngực anh, th* d*c hỏi: “Trời sáng rồi, anh không đi làm việc sao?”
“Chuyên tâm chút đi!”
Người đàn ông dường như không hài lòng với sự thúc giục của cô, nắm lấy phần thịt đùi cô bóp mạnh một cái. Cô đau đến khẽ rên, ngước nhìn gương mặt anh, dù đang chìm sâu trong d*c v*ng, nhưng vẫn phẳng lặng không gợn sóng.
Trúc Quân dùng hai năm hôn nhân để hiểu người đàn ông này.
Ngày mới lấy anh, lòng cô nóng bỏng bao nhiêu thì bây giờ lạnh lẽo bấy nhiêu.
Cô không sao nắm bắt được anh. Dẫu rằng khi cô lâm vào cảnh túng quẫn nhất, bất lực nhất, chính anh đã cưới cô, cho cô áo gấm cơm ngon, khiến cô không cần vì cuộc sống mà bôn ba.
Trong một khoảnh khắc quỷ thần xui khiến, cô đưa tay vuốt lên gò má anh.
Người đàn ông khẽ sững lại, chăm chăm nhìn vào mắt cô. Ánh mắt anh sắc bén vô cùng, như thể đã nhìn thấu những bí mật sâu kín nhất mà cô cất giấu.
Trúc Quân chột dạ, quay mặt đi chỗ khác.
Lúc này anh không còn tâm trí để để ý đến cô. Mồ hôi mịn rịn trên trán anh, quai hàm càng thêm căng cứng, yết hầu cuộn lên hai lần, rồi anh bất chợt cúi xuống, hôn chặt lấy môi cô.
Anh đứng dậy xuống giường, cầm lấy quần áo. Hàng tua rèm tuyết lý thanh trên đỉnh giường chậm rãi ngừng lay động.
Anh mặc đồ rồi ra ngoài.
Trúc Quân nằm ngửa, bất động, kiệt sức, cảm giác như anh cố tình hành hạ cô vậy.
Không biết đã qua bao lâu, cho đến khi nha đầu Thu Lan vào treo màn, nói: “Tiên sinh đã ra ngoài xử lý công việc rồi ạ.”
Lúc này Trúc Quân mới như sống lại. Cô ngồi dậy, giống như mỗi buổi sáng thường ngày: rửa mặt, thay quần áo, chải đầu, ăn sáng.
Nửa bát hoành thánh nhỏ còn chưa ăn xong, thì điện thoại reo lên. Cô tự mình ra nghe, “vâng vâng dạ dạ” một hồi, rồi gác máy, nói với Thu Lan rằng muốn sang nhà bà Vương đánh bài, bảo nhà dưới chặn một chiếc xe kéo chờ sẵn.
Cô đứng trước gương, dặm phấn, tô son. Tô xong lại thấy quá đỏ, dễ gây chú ý, bèn dùng miếng bọt biển ướt lau nhạt đi, đến khi gần như không còn màu sắc mới cầm túi xách ra ngoài, cũng không cho ai đi theo.
Thu Lan đứng ở cửa, mãi đến khi xe kéo khuất bóng, mới vội vàng chạy về phòng gọi điện thoại.
Xe kéo rẽ ra khỏi đường Hải Cách, Trúc Quân bảo phu xe đổi hướng sang ga tàu.
Cô quay đầu nhìn lại, thấy một chiếc Plymouth màu đen chầm chậm bám theo phía sau liền vô thức siết chặt lan can xe.
Trước đó cô còn chưa thấy gì, nhưng lúc này tim lại đập thình thịch, mỗi lúc một gấp, nghẹn đến tận cổ họng.
Cô nhịn không được ho hai tiếng. Phu xe tranh đèn xanh, chân đạp như lắp bánh xe lửa, gió ào ào tạt thẳng vào miệng cô, suýt nữa khiến cô nghẹn đến ngất đi.
Bên cạnh ga tàu có một hiệu ngân phiếu. Hai ba người Ấn Độ quấn khăn đỏ đứng cạnh những thùng sắt xanh lục của bưu điện, hút thuốc. Thấy Trúc Quân, tinh thần họ lập tức phấn chấn, trong đôi mắt nâu xám như được phủ một lớp dầu bóng.
Trúc Quân cảm thấy có chút kỳ quái.
Cô không phải kiểu xinh đẹp diễm lệ, cũng chẳng ăn mặc chỉnh tề. Chiếc sườn xám nhung lụa màu xanh olive nửa mới nửa cũ, túi xách da đen viền xanh biếc, nhìn thế nào cũng không giống dáng dấp phu nhân trẻ tuổi quyền quý.
Nếu miễn cưỡng tìm chỗ có thể xem là đẹp, thì chỉ có đoạn cổ tay trắng như tuyết lộ ra ngoài ống tay lửng, nhưng ngay cả thứ ấy cũng bị chiếc vòng xen-lu-lô đỏ bạc làm cho mất giá.
Cô nghĩ chắc là mình tự đa nghi.
Trong hiệu ngân phiếu không có nhiều người, tiếng chuông điện thoại vang lên liên hồi. Vừa bước vào cửa, Trúc Quân đã thấy một người đứng dựa tường vẫy tay về phía cô, cô vội bước nhanh tới.
Người đàn ông đó là Diêu Tô Niệm. Anh đưa cho cô chiếc vali nhỏ trước, bên trong là vàng thỏi, ngân phiếu, cùng một chiếc rương da đựng quần áo và vật dụng.
Ở góc phòng lại có một người đàn ông trung niên đứng dậy, bên chân cũng đặt một chiếc vali.
Diêu Tô Niệm giới thiệu: “Đây là chú Lê, đây là Triệu Trúc Quân.”
Người được gọi là chú Lê trông không hề già, mỉm cười với cô, vẻ mặt hoà nhã.
Hốc mắt cô bỗng dưng ướt lên. Trong lòng Trúc Quân hiểu sâu sắc, Diêu Tô Niệm còn chịu giúp cô là điều khó khăn đến nhường nào.
Diêu Tô Niệm thì vẫn bình thản, trái lại còn an ủi cô: “Dọc đường em không cần lo gì cả. Chú Lê sẽ đưa em đến cửa khẩu La Hồ xuất cảnh, cứ theo ông ấy mà đi.”
Anh lại thúc giục: “Đi nhanh đi, đừng chậm trễ! Bộ trưởng Phạm là người rất cảnh giác, chỉ cần một cú điện thoại là anh ta có thể phong toả cả ga tàu, đến lúc đó muốn đi cũng không đi được.”
Đúng vậy!
Đây là quyết định lớn đầu tiên trong đời Trúc Quân. Cô đã lên kế hoạch suốt nửa năm, cô muốn đập vỡ chiếc xiềng vàng ngọc siết chặt cổ mình, trở thành một Nora của thời đại mới.
Người đàn ông kia tuy không phải Helmer, nhưng cũng tuyệt đối không phải người chồng lý tưởng trong lòng cô.
Còn người chồng lý tưởng là thế nào ư? Cô thật ra cũng không có khái niệm rõ ràng, chỉ nghĩ rằng người đó biết dịu dàng bầu bạn, hiểu ấm lạnh, sẵn lòng trò chuyện với cô, nghe cô nói là đủ.
Ngay cả như vậy, anh cũng không làm được. Hơn nữa, anh còn ngoại tình!
Đó là cọng rơm cuối cùng đè gãy lưng lạc đà. Cô tuyệt đối không thể nhẫn nhịn!
Không thể đi lại con đường cũ của mẹ nữa.
Trúc Quân lạnh lùng nghĩ, nhưng bước chân vẫn theo sát chú Lê đến chỗ nhân viên soát vé.
Nhân viên xé nhanh một góc vé, đẩy mạnh lưng họ, lớn tiếng quát: “Đi mau! Đi mau! Vào trong!”
Cách đối xử chẳng khác gì xua vịt.
Trên sân ga chật kín hành khách, người thì xách, kẻ thì vác đủ loại hành lý lớn nhỏ. Phu khuân vác được thuê đứng trông đồ đạc cho họ, còn chú Lê thì trông chừng phu khuân.
Đèn tín hiệu đột nhiên sáng lên, như con mắt đỏ lòm mở to, cảnh báo đoàn tàu đến muộn sắp vào ga.
Trúc Quân hai tay trống không, làm ông chủ nhàn hạ.
Chú Lê nhận ra cô liên tục ngoái đầu nhìn lại, có chút nghi hoặc, hỏi: “Sao thế?”
Trúc Quân lắc đầu. Cô sợ nói ra sẽ khiến ông hoảng sợ mà không chịu dẫn cô đi nữa. Cô luôn cảm thấy có người theo sau, lén lút ẩn hiện.
Lên tàu rồi, chú Lê tìm được chỗ ngồi, mời cô ngồi xuống.
Một tiếng còi dài vang lên, thân tàu bắt đầu rung lắc. Sau khi đoàn tàu rời sân ga, tầm nhìn trở nên rộng mở, ban đầu còn thấy vài dãy nhà thấp lè tè, rồi chỉ còn bạt ngàn những cánh đồng chưa chín. Một ông lão ngồi xổm trên bờ ruộng hút thuốc, trâu ở ngoài đồng, chó đứng trên lối đi, không đùa nghịch, tất cả đều ngây ngây dại dại.
Nhưng rất nhanh, ngay cả chút phong cảnh ấy cũng biến mất.
Trúc Quân cười nhạt, tự giễu mình doạ mình.
“Xin hỏi… đây có phải khoang B2 không?”
Một cô gái đứng ở cửa, không chắc chắn hỏi.
Cô mặc váy Tây, một bím tóc dài buông trước ngực, đen nhánh, thô dày. Gương mặt lại rất trắng trẻo thanh tú, trông giống người vùng Giang Nam.
Thấy Trúc Quân gật đầu, cô gái mới thở phào một hơi, kéo va-li vào, đặt phẳng xuống đất, cúi người mở khoá da, lấy ra khăn bông và bình nước.
Mặt bàn đã bị đồ của Trúc Quân chiếm hết, cô gái có phần luống cuống.
“Cái bàn này bé thật.”
Trúc Quân cười giải thích, vội cầm nải chuối lên, tìm sợi dây đỏ buộc lại, treo ngược lên móc đồng.
“Phải đấy.”
Cô gái phụ hoạ, đặt bình nước xuống, khăn bông cũng học theo Trúc Quân treo lên móc.
Trò chuyện vài câu đơn giản, Trúc Quân chỉ nói mình là nhân viên hãng Tây, được cử sang Thượng Hải làm việc. Cô cũng biết được cô gái tên là Khương Vân Xuân, đang học đại học, chuyến này cùng mấy bạn học đi Thượng Hải chơi.
Trúc Quân không tin lời cô nói.
Ai lại vượt biển chỉ để đi chơi?
Thanh niên thời nay bị thời cuộc rèn giũa ra đủ thứ mắt nhìn đời, nhưng chuyện đó thì liên quan gì đến cô? Họ chỉ là bạn đồng hành ở chung một khoang. Nửa tháng sau, mỗi người một ngả, quên nhau nơi giang hồ.
Chẳng bao lâu sau, lại có một nam một nữ bước vào, gương mặt trẻ trung còn vương nét non nớt.
Khương Vân Xuân giới thiệu với Trúc Quân: người nam tên là Tào Vi Dân, người nữ tên là Lý Mẫn Phân, họ ở khoang hạng ba, là bạn học của cô.
Tào Vi Dân rất lễ phép, đứng lưỡng lự ở cửa, áy náy hỏi: “Tôi có thể vào được không?”
Trúc Quân lập tức có thiện cảm với anh ta, mỉm cười gật đầu. Cô còn mở hộp cơm, bên trong đầy ắp đậu tằm chiên, mời họ ăn. Đậu tằm giòn rụm trong miệng, kêu lách tách. Lý Mẫn Phân là người quen thân nhanh, chẳng mấy chốc đã gọi Trúc Quân là chị: “Có phải mua ở tiệm Dụ Ký trong bãi đua không? Thơm quá!”
Điểm nổi bật nhất trên gương mặt cô ấy là mấy nốt tàn nhang lấm tấm rải rác trên xương trán, hạt nào hạt nấy khá to, giống như vừng vàng nhạt rắc vào bột mì trắng, khiến người ta nảy sinh một cảm giác rất kỳ quặc, chỉ muốn đưa tay cạy chúng ra.
Trúc Quân không nhịn được bật cười rồi lắc đầu.
Ngày trước khi lên đường, Anh Trân nhất quyết phải tự tay làm đậu tằm chiên cho Trúc Quân mang theo ăn dọc đường.
Cô ngâm mềm đậu tằm, chắt sạch nước rồi đổ vào cái nia tre. Hai người cùng với bọn người làm ngồi trong sân, dùng dao khía chữ thập lên đầu từng hạt đậu, sau đó trải ra phơi dưới nắng.
Đến chiều tối, trong bếp nửa nồi dầu đã sôi cuồn cuộn, đậu tằm được thả xuống, tiếng “lách tách” vang trời.
Anh Trân cầm vá vớt đảo trong nồi, dầu bắn tung toé. Người làm thì căng thẳng vô cùng, luôn miệng nói: “Để tôi làm cho, nhỡ làm phu nhân bỏng thì không biết ăn nói thế nào với tiên sinh cả.”
Anh Trân coi như không nghe thấy, vớt một vá đậu cho vào đĩa.
Đậu tằm đều nở bung như hoa, vàng ruộm, nhỏ dầu. Người làm vội rắc muối và bột ngũ vị hương, dùng đũa trộn đều, bưng đĩa lại gần, mời Trúc Quân nếm thử.
Trúc Quân nhón một hạt cho vào miệng, nóng hổi như nuốt phải một quả cầu lửa, nhai qua loa rồi vội vàng nuốt xuống, chẳng khác gì Trư Bát Giới ăn nhân sâm quả, chẳng kịp nếm mùi vị gì, nhưng vẫn cười gật đầu: “Vừa giòn vừa bùi.”
Người làm bỗng hoảng hốt kêu lên một tiếng: “Tiên sinh… tiên sinh về rồi!”
Chỉ thấy rèm cửa vén lên, Diêu Khiêm bước vào. Anh đi thẳng tới trước mặt Anh Trân, nhíu mày cười, đưa tay nắm lấy tay cô, không cho phân bua đã lấy vá vớt trong tay cô đưa cho người làm, giọng có trách nhưng không hề giận: “Nghe nói em mệt cả ngày rồi? Được thế là đủ rồi.”
Bàn tay anh mang theo hơi ấm, dịu dàng vuốt lên bụng cô, lại hỏi: “Có quấy em không?”
Anh Trân bị anh nói đến đỏ bừng cả mặt, không cần anh thúc mà tự mình đã lúng túng đi ra ngoài, vừa đi vừa lầm bầm trách móc: “Nhất định phải để ai cũng biết hay sao?”
“Đây là chuyện vui, anh hận không thể…”
Giọng nói trầm thấp của Diêu Khiêm tan đi ngoài cửa.
Anh hận không thể làm gì?
Thông báo cho thiên hạ hay sao?
Người làm chiên đậu tằm khéo tay hơn Anh Trân nhiều. Cô rung vá cho ráo dầu, liếc mắt nhìn Trúc Quân đang ngẩn người, cười híp mắt hỏi: “Nhìn không ra phải không? Con gái nhỏ mới bốn tuổi, mà bà nhà tôi lại mang thai rồi, bốn tháng rồi đấy.”
Trúc Quân quả thực rất kinh ngạc, tâm trạng phức tạp, lí nhí hỏi: “Bà Diêu cũng ngoài bốn mươi rồi nhỉ?”
“Chứ còn gì nữa! Nhưng có ai nhìn ra đâu? Trông vẫn như phu nhân trẻ tuổi ấy.”
Người làm vừa vớt từng vá đậu tằm, vừa nói bằng giọng đầy ngưỡng mộ: “Tôi làm người ở cho nhà giàu hơn chục năm nay, hết nhà này sang nhà khác, thật chưa từng thấy đôi vợ chồng nào tình cảm tốt như họ. Không thì ở cái tuổi này rồi, lấy đâu ra con cái nữa? Phải không, bà Phạm?”
Bà bĩu môi, cười đầy vẻ bí mật, lại nhiệt tình nói: “Bà Phạm, cô nếm thử đậu tằm tôi chiên xem, có giòn không? Có phải ngon hơn phu nhân chiên không?”
Trúc Quân nhón một hạt bỏ vào miệng, lúc này không còn nóng nữa, cười gật đầu: “Giòn lắm.”
…
Ăn xong đậu tằm chiên, đầu ngón tay đầy dầu mỡ. Trúc Quân nhớ ra từ lúc thu dọn hành lý đến giờ vẫn chưa rửa tay liền cầm khăn bông ra khỏi khoang.
Vừa bước đi, phía sau đã vang lên tiếng cười khúc khích không nén nổi, hiển nhiên là việc cô rời đi khiến mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.
Hành lang trải thảm xanh sẫm. Lúc ngồi thì không thấy gì, nhưng lúc đứng giữa lối đi, cô mới phát giác tàu lắc dữ dội, như thể dưới chân là từng đợt sóng. Cô vội vịn vào vách tàu, dò dẫm đi tới phòng rửa tay.
May là không xa, nhưng cảnh tượng trong phòng rửa tay thì không thể nhìn nổi. Chung quanh bồn cầu loang lổ nước tiểu vàng nhạt, còn có cả thứ bẩn thỉu không biết của ai say sóng nôn ra.
Cô ghê tởm đứng trước bồn rửa tay bằng sứ trắng, vặn vòi nước làm ướt khăn bông, chà xát đầu ngón tay. Nhưng vừa ngẩng đầu lên, tấm gương bốn phía trước mặt đã phản chiếu trọn vẹn cảnh tượng dơ bẩn bên bồn cầu, khiến cổ họng cô nghẹn lại, dâng lên một cơn buồn nôn.
Khi cô mặt mày tái mét quay về khoang, thì Khương Vân Xuân và hai người kia đều đã không còn ở đó.
Trúc Quân uống hai ngụm nước để làm dịu dạ dày đang khó chịu. Đậu tằm chiên đã bị ăn mất một nửa, cô cũng không để tâm, vốn dĩ cô không thích món này. Thứ cô nhớ hơn cả là đậu ngũ vị ở miếu Thành Hoàng Thượng Hải.
Thuỷ thủ đến mời cô xuống phòng ăn dùng bữa tối. Trong phòng ăn, bàn được ghép thành dãy dài, hai bên đặt ghế có tựa lưng. Bên trong lúc này đã có không ít người ngồi.
Trúc Quân đang do dự có nên đợi lát nữa hãy đến không, thì Khương Vân Xuân đã trông thấy cô trước, vươn dài tay ra vẫy liên tục. Cô muốn giả vờ không nhìn thấy cũng không được, đành gật đầu mỉm cười đi tới.
Tào Vi Dân và Lý Mẫn Phân cũng ở đó. Lý Mẫn Phân nói: “Chị, đông người quá, bọn em giữ chỗ cho chị rồi.”
Trúc Quân tỏ ý cảm ơn. Tào Vi Dân lại giới thiệu với cô hai thanh niên khác, một người tên là Trương Phùng Châu, một người tên là Mạnh Vũ, đều đi cùng bọn họ, có lẽ cũng ở khoang hạng ba.
Tàu của công ty Hà Lan phân chia đẳng cấp rất nghiêm ngặt, ăn cơm là phải soát vé. Các hãng khác chỉ cần canh chặt khoang hạng nhất là xong, những khoang còn lại đều nhắm một mắt mở một mắt, trừ khi có người khiếu nại, bằng không chẳng ai rảnh mà quản.
Bánh mì, pho mát, giăm bông rán, trứng xào và nước cam mà Khương Vân Xuân gọi được mang lên trước. Trúc Quân chờ phần cơm rang và nước chanh của mình.
Cô tiện tay nhặt một tờ báo Đại Chúng không biết ai vứt lại, là báo của mười mấy ngày trước, có lẽ do thuỷ thủ mang lên.
Trên báo, ngoài tình hình quốc tế thì là tình hình trong nước, chiến tranh thế giới, cổ phiếu, dân sinh, quảng cáo, ám sát, nữ minh tinh, đại Hán gian.
Cô không tránh khỏi liếc thấy bức ảnh chụp nửa mặt nghiêng của Phạm Dục Thanh. Gò má anh góc cạnh rõ ràng, mũi cao môi mỏng, ánh mắt sắc bén. Có lẽ vì ngồi ở địa vị cao nên toát ra một cảm giác xa cách với người đời.
Phần chữ đính kèm mấy trăm chữ là một mẩu tin đào hoa, tóm lại cũng chỉ là: Bộ trưởng trèo tường vào tổ hương của nữ đào, triền miên cả đêm, máu vấy bạc súng.
Trúc Quân không có biến động tâm lý gì, chỉ thầm đoán thử nữ thư ký của anh ta sẽ phản ứng ra sao.
Tức đến phát điên chứ gì?
Cô nghĩ với vẻ hả hê.
Cơm rang ăn cũng được. Cô vừa ăn vừa đọc báo, trông có vẻ bận rộn, chủ yếu là không muốn nghe Khương Vân Xuân bọn họ nói chuyện.
Một đám sinh viên yêu nước chưa từng va chạm sự đời, hăng hái cao đàm khoát luận, phân tích phong vân quốc tế, mắng chửi chính phủ và Hán gian, rồi lại hạ thấp giọng thì thầm bàn bạc.
Trúc Quân nghe càng lúc càng thấy kinh hãi, thầm nghĩ quả nhiên mình không đoán sai, chuyến đi Thượng Hải này của họ tuyệt đối không đơn giản chỉ là đi chơi.
Nhưng cô lại cảm thấy họ chắc chắn chẳng làm nên trò trống gì, ít nhất là nói năng không biết kiêng dè. Chẳng lẽ chỉ vì ăn nửa hộp đậu tằm chiên của cô, mà đã coi cô là người một nhà rồi sao?
Họ quá cả tin, không có chút cảnh giác nào.
Nếu cô mà lòng dạ xấu, vừa xuống tàu liền vào đồn cảnh sát tố cáo, thì bọn họ chẳng phải từng người từng người đi nộp mạng hay sao, xuất sư chưa thắng, thân đã chết trước?
Hoài bão cao xa, tư tưởng đơn thuần, e rằng cuối cùng chỉ để lại một bầu nhiệt huyết suông.
Trúc Quân tự nhắc mình, trong chặng đường sắp tới phải tránh xa đám sinh viên ấy, không nên qua lại thân thiết. Bọn họ sớm muộn gì cũng sẽ gặp chuyện, đừng để lửa bén sang người mình.
Sau khi tàu hoả tới Tô Châu, chú Lê xách vali, dẫn cô ra ven đường gọi một chiếc xe. Xe chạy hơn một tiếng đồng hồ, mới dừng lại ở một nơi gọi là ngõ Thính Vũ.
Con ngõ này khác với ngõ hẻm Thượng Hải. Ngõ hẹp, tường cao, không thấy cửa sổ; mái ngói xanh đen, tường quét vôi trắng, bị mưa ngấm loang lổ xám xanh từng mảng. Không xấu, trái lại còn mang cảm giác phóng bút của tranh cổ lâu năm, một vẻ hoang tàn lạnh lẽo.
Cô theo chú Lê đi sâu vào trong ngõ. Ngõ sâu vắng người, mèo chó cũng không thấy, chỉ lờ mờ ngửi được mùi thịt kho tàu. Mùi hương ấy mỗi lúc một đậm, thơm đến mức khiến cô không kìm được mà nuốt nước bọt.
Chú Lê dừng trước một cánh cổng, vừa gõ chiếc vòng cửa hình thú bằng đồng vừa quay sang cười giới thiệu: “Đây là nhà tôi.”
Rất nhanh, Trúc Quân nghe thấy tiếng bước chân từ bên trong. Người mở cửa là một ông lão mặc trường sam mã quái, nhìn là biết trong nhà giữ vai trò quản sự.
Chú Lê gọi một tiếng “bác Mãn”, còn ông lão thì oang oang gọi: “Cậu chủ về rồi!”
Rồi lại vội vàng gọi A Phúc ra giúp xách hành lý.
A Phúc là một thiếu niên mười mấy tuổi, dáng vẻ rụt rè, vừa cạo đầu xong, da đầu còn xanh xanh. Cậu phấn khởi chạy tới nhận lấy hành lý.
Hai người cùng nhau bước vào chính sảnh.
Hai bên bàn thờ thần, trên ghế ngồi hai bà lão. Sau lưng người phụ nữ trẻ hơn có một người đàn bà khác đứng, tuổi lại trẻ hơn chút nữa. Ba người đều vấn tóc búi, mặc áo rộng eo tay lớn, vạt áo và cổ tay viền ba lớp nẹp, thêu hoa văn.
Trong đại trạch ánh sáng u ám này, họ ngồi đó, đoan trang nghiêm nghị, toát ra một luồng khí tức của gia tộc cũ đang dần suy tàn theo năm tháng.
Bác Mãn mang bồ đoàn ra. Chú Lê quỳ xuống trước hai bà lão, khấu đầu, gọi “bà nội”, “mẹ”, rồi mới đứng dậy.
Trúc Quân thấy ánh mắt các bà đều sắc sảo dồn về phía mình, còn người phụ nữ trẻ hơn thì vẻ mặt bối rối, hồn vía không nơi nương tựa.
Cô đoán họ hẳn đã hiểu lầm điều gì đó.
Quả nhiên, sau một hồi giải thích của chú Lê, bầu không khí lập tức dịu xuống. Bà lão khách sáo hỏi han mấy câu, rồi sai người phụ nữ trẻ hơn đưa Trúc Quân về phòng nghỉ trước.
Trúc Quân theo người phụ nữ ấy rời khỏi chính sảnh.
Chú Lê lại đuổi theo, thấp giọng bàn với cô, xin cô nán lại ngủ tạm một đêm, sáng hôm sau hãy đi. Giọng ông đầy áy náy. Ông xa nhà nhiều năm, đây là lần đầu trở về, sợ vừa về đã đi ngay thì hai bà lão không chịu nổi.
Trúc Quân vốn không muốn. Cô là chạy trốn, không phải đi chơi, cần nhất là tranh thủ từng phút từng giây.
Nhưng ánh mắt vô tình liếc thấy bóng lưng thê lương của người phụ nữ cách đó bốn năm bước, lòng cô chợt mềm đi. Huống chi chú Lê rõ ràng đã quyết định rồi, chẳng qua lịch sự báo cô một tiếng mà thôi.
Cô chỉ đành cười, hỏi lại cho chắc: “Sáng mai nhất định đi được chứ?”
Nhận được câu trả lời khẳng định, cô gật đầu nói: “Được.”
Người phụ nữ đưa cô vào phòng khách rồi rời đi. Trong phòng, mọi thứ đều đã chuẩn bị sẵn.
Trúc Quân rửa tay rửa mặt xong, rót một chén trà nóng, ngồi bên bàn uống. Lờ mờ nghe thấy dưới lầu có tiếng nói chuyện, cô liền ra bên cửa sổ cúi xuống nhìn, thấy trong sân trời vuông vức, bốn năm người đàn ông đội mũ, mặc trường sam, cùng với chú Lê vội vàng lướt qua.
Cô có chút bồn chồn, không biết sẽ xảy ra chuyện gì, lúc đó cô đã nghĩ như vậy.
Ngồi trở lại bên bàn, nhìn những tia sáng xiên qua khe mái ngói, trong đó lơ lửng từng sợi bụi vàng, cô vẫn nghĩ như thế. Nghĩ nhiều quá liền gật gù ngủ.
Trong cơn mơ màng, cô dường như nghe thấy phía sau có người đàn ông khẽ thở dài một tiếng.
Cô hoảng hốt tỉnh dậy, thấy hơi lạnh, nhất thời không biết mình đang ở đâu. Trong phòng tối om, cũng không rõ dây kéo đèn ở đâu.
Cô ngồi ngẩn ra một lúc, nước mắt chảy xuống.
Cô lén lút sụt sịt, cho đến khi nghe thấy có người lên lầu, mới vội lau khô nước mắt.
Người tới là nữ hầu trong nhà. Cô ta bật “tách” một cái, đèn sáng lên. Gương mặt cô ta không thể gọi là hoà nhã, chỉ hỏi: “Bà Phạm xuống dưới ăn cơm, hay tôi bưng lên phòng?”
Câu hỏi ấy chạm đúng tâm trạng Trúc Quân. Cô vội nói: “Bưng lên phòng giúp tôi.”
Câu trả lời này dường như cũng đúng ý nữ hầu. Cô ta đáp một tiếng rồi vội vã đi ngay, như sợ cô đổi ý vậy.
Trúc Quân nhìn quanh bốn phía. Đồ đạc trong ngôi nhà cũ đều toát ra một luồng khí âm u. Chiếc gương trên bàn trang điểm bị trấn giữ, trong gương lấp lánh ánh sáng như sóng nước, đó là tàn ảnh của ánh đèn lay động.
Nữ hầu xách hộp cơm lên, sơn đen vẽ vàng, khắp thân là hoa chim. Cô ta mở nắp, lấy ra những món ăn còn bốc hơi nghi ngút.
Trúc Quân rảnh rỗi hỏi một câu: “Cậu chủ nhà không hay về sao?”
Nữ hầu “ừ” một tiếng, lập tức hỏi lại: “Cô đã gặp phu nhân ở Thượng Hải của cậu chủ chưa? Cô ấy thế nào? Có con không?”
Rồi cô ta bổ sung thêm mấy câu để khơi gợi thương cảm: “Cậu chủ chán ghét phu nhân. Sau khi cưới xong là đi ngay, ở Thượng Hải mãi không chịu về. Ôi… mấy năm nay, phu nhân như người uống nước ngâm hoàng liên.”
Âm cuối câu nói mang theo vẻ u uất, còn ánh mắt nhìn Trúc Quân lại đầy hy vọng.
Trúc Quân thầm nghĩ, nhất định là người phụ nữ trẻ kia sai cô ta đến dò hỏi. Nếu cô biết, hẳn đã sẵn lòng nói hết, nhưng khổ nỗi không giúp được gì, liền áy náy nói: “Ừm… tôi thật sự không quen với cậu chủ nhà các người.”
Nữ hầu không tin, dò hỏi thêm một lúc. Thấy Trúc Quân giữ miệng kín kẽ, cô ta đành thất vọng rời đi.
Trúc Quân hoàn toàn hiểu tâm trạng của cô ta. Cô ăn thịt kho tàu, thấy vị hơi ngọt, nhưng trứng kho kèm theo thì rất ngấm.
Ăn xong, cô vẫn ở yên trong phòng, dĩ nhiên cũng không có ai đến làm phiền.
Không khí ẩm lạnh theo gió thổi vào, cô đứng dậy đóng cửa sổ.
Trong sân đã treo đèn lồng, bóng đỏ mờ mịt. Gió cắt mưa tơ, dường như có tiếng hát tuồng hay tiếng cười nói, lại như ồn ào hay tiếng thút thít, lạo xạo ríu rít. Cô thấy ồn, liền khép chặt cửa sổ, không nghe nữa.
Những đại trạch thâm sâu như thế này, bất kể là bây giờ hay năm trăm năm trước, mẹ chồng nàng dâu, chị em dâu, anh em cô cậu, đấu trí đấu khí, tranh giành gia sản, xưa nay đều không thể tránh khỏi.
Có lẽ vì buổi chiều đã ngủ, cô trằn trọc mãi không buồn ngủ, ván giường bị đè phát ra tiếng kẽo kẹt trầm đục.
Cô muốn đi vệ sinh, khoác áo xuống giường, tìm một vòng không thấy bô, đành mở cửa xuống lầu, rón rén không dám phát ra tiếng.
Không rõ người làm là đi hầu chủ nhà, hay trốn đâu đó lười biếng, tóm lại cô không gặp một bóng người.
Cô như một nữ quỷ tóc xõa, đi vòng quanh giếng trời, cuối cùng nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ cửa sổ gian phòng phụ, một quầng sáng vàng vọt.
Cô mừng rỡ tiến lại gần, chợt nghe thấy giọng một người đàn ông từ bên trong vọng ra: “Cơ hội rất tốt, cứ nhốt cô ta ở đây, rồi chúng ta lại phái người đi thương lượng với Bộ trưởng Phạm.”
Ông ta nói giọng Tô Châu, vốn là Ngô ngữ mềm mại, nhưng bị ông nói ra lại hung hăng đến đáng sợ.
Trúc Quân cảm thấy mình như con chuột, lỡ giẫm vào tấm bẫy bôi đầy keo dính, gót chân không nhấc lên nổi, hai chân mềm nhũn.
Lúc này, động hay không động, cô đều sợ phát ra tiếng bị phát hiện.
Người trong phòng nín thở im lặng. Sau một lát trầm mặc, cô mới nghe thấy giọng chú Lê nói: “Không được! Quá mạo hiểm. Phải nghĩ cách khác. Hơn nữa tôi đã hứa với Diêu Tô Niệm rồi…”
Trúc Quân tim đập thình thịch quay về, đầu óc choáng váng, loạng choạng leo lên cầu thang. Vừa lên tới tầng hai, cô lại đụng phải nữ hầu đã đưa cơm tối cho mình.
Nữ hầu xách bình nước nóng vỏ mây đứng ngoài hành lang, cũng sững sờ trước sự xuất hiện đột ngột của cô.
“Sao cô lại đến đây?”
Lúc này Trúc Quân mới phát hiện, trong cơn hoảng loạn vừa rồi, mình đã đi nhầm cầu thang. Cô ngẩng lên, vừa hay nhìn thấy qua cánh cửa hé mở, người phụ nữ trẻ kia đang ngồi xổm rửa mông trong chậu. Cô cúi đầu, trên búi tóc đen bóng cài một chiếc trâm vàng đỏ, mỏng cong như vầng trăng hạ huyền.
Cô vội vàng thì thầm giải thích với nữ hầu: “Trong phòng tôi không có bô.”
“A Quế, cô đang nói chuyện với ai thế?”
Người phụ nữ kia không ngẩng đầu, giọng hỏi cũng hờ hững.
“Không có ai cả, chỉ mình tôi thôi.”
Nữ hầu chỉ về phía phòng khách, bĩu môi ra hiệu, sốt ruột thúc cô đi nhanh.
Trúc Quân quay người chạy, một mạch chạy về phòng, tay run chân rẩy, th* d*c không ngừng, cảm giác như đã trải qua nửa đời phong ba.
May mà không lâu sau, nữ hầu đã mang bô lên cho cô.
–
Trúc Quân ăn xong cơm rang, nhóm người Khương Vân Xuân vẫn chưa bàn xong việc, lại gọi thêm cà phê. Cô bèn một mình lên boong tàu đi dạo.
Đây hiển nhiên không phải một ý hay.
Hoàng hôn đã tan, gió biển thổi lạnh buốt. Một phu nhân ăn mặc lộng lẫy đang tạo dáng, lưng dựa lan can, hai tay dang ngang, ngẩng đầu nhìn trời, cố kéo dài chiếc cổ mảnh mai của mình đến mức tối đa.
Một lọn tóc của chị ta liên tục bị gió thổi rối, dính vào mắt hoặc môi, khiến chị ta phải không ngừng làm gián đoạn gã người Anh đang chụp ảnh cho mình.
Để tìm được góc chụp tốt nhất, gã người Anh đã quỳ một chân, nửa thân trên vặn vẹo thành tư thế kỳ quái khá lâu. Gã cảm nhận được ánh mắt nhìn xuống của mọi người, cả những ánh nhìn trêu chọc. Dù trên mặt vẫn giữ nụ cười, nhưng vẫn lộ ra vẻ mất kiên nhẫn.
Vị phu nhân kia thì hoàn toàn không hay biết.
Chị ta vén tóc ra sau tai, lại dang phẳng hai tay, ngẩng cổ lên như vừa phát hiện Tân Thế Giới, thúc giục: “Anh yêu, nhanh lên, chụp mau!”
Trúc Quân thấy một con hải âu trắng từ lan can sà ngang qua, dang cánh bay về phía nơi trời nước giao nhau. Lúc này vẫn còn chút ánh chiều, tiếc là gã người Anh đã đứng dậy trước.
Cô quay về khoang.
Khương Vân Xuân không có ở đó, nhưng trên ghế đã đặt sẵn hai bộ chăn mỏng và gối, là do thuỷ thủ mang tới.
Trúc Quân cũng thấy nải chuối mình treo bị thiếu mất một quả.
Cô nghĩ: ăn thì cứ ăn đi, còn hơn để thối.
Tàu đi mấy ngày, sáng sớm hôm đó ghé vào một hòn đảo nhỏ để nghỉ và tiếp tế. Biển lặng sóng yên, hải âu thành đàn, boong tàu chật kín người.
Ánh nắng chiếu lên gương mặt họ, đến cả đường nét ngũ quan cũng trở nên mờ nhạt.
Trúc Quân đưa tay che trán, thấy gã người Anh bẻ vụn bánh mì cho hải âu ăn. Trước ngực gã đeo máy ảnh, nét mặt u uất. Chiếc mũi Hy Lạp cao vút như núi, toát ra vài phần lạnh lẽo.
Không xa, vị phu nhân áo quần lộng lẫy khoác tay một chàng trai trẻ lai, hai người vừa nói vừa cười, còn hút thuốc, phả khói vào nhau đầy lả lơi, trong mắt ánh lên vẻ gian xảo như hồ ly.
Mấy người Ấn Độ đeo giỏ lên boong bán sari, cà ri và bánh nướng dẹt. Họ không chỉ nói được tiếng Anh, tiếng Quảng Đông, tiếng phổ thông, mà ngay cả tiếng Thượng Hải cũng bập bẹ được vài câu.
Khương Vân Xuân nhắc Trúc Quân cẩn thận, mấy người Ấn Độ này hay nhân lúc người ta lựa hàng mà tiện tay trộm đồ quý.
Quả nhiên, sau khi thuỷ thủ xua họ xuống boong, đã có người lẩm bẩm rằng ví tiền mất rồi, cổ tay trống không, chiếc nhẫn đá quý đeo ở ngón áp út cũng không thấy đâu nữa.
Tàu đã hú còi rời đảo.
Họ đều chỉ là khách qua đường.
Những kẻ lưu luyến họ, ngoài đàn hải âu, còn có những người Ấn Độ.
Trúc Quân và Khương Vân Xuân tự làm bữa trà chiều. Không có đĩa, họ dùng luôn hộp cơm từng đựng đậu tằm chiên hoa, đậu tằm chiên vừa khéo đã ăn hết, có thể cho chuối cắt miếng nhỏ vào, rưới thêm sốt mật ong, trông cũng ra dáng lắm. Hai cốc cà phê là mua từ nhà hàng. Trúc Quân xiên một miếng chuối, hỏi: “Cô học trường đại học nào?”
“Đại học Hồng Kông.”
“Ồ. Cô có biết ngài Diêu, Diêu Khiêm không?”
Khương Vân Xuân lộ vẻ dĩ nhiên là biết: “Ngài Diêu dạy kinh tế học, lớp của ngài ấy rất khó đăng ký, ai cũng tranh nhau học. Chị, sao chị lại hỏi đến ngài ấy? Ấy, trước kia ngài ấy cũng ở Thượng Hải, hai người nhất định quen nhau chứ?”
Trúc Quân lại không muốn thừa nhận mình quen anh, chỉ mỉm cười nói: “Chưa chắc, biết đâu trùng tên trùng họ.”
Khương Vân Xuân cứ muốn truy đến cùng. Cô lau tay, mở vali lấy ra một cuốn album ảnh, lật mấy trang rồi đẩy sang cho Trúc Quân: “Chị, chị xem, có phải là ngài ấy không?”
Đó là một tấm ảnh chụp chung của sinh viên. Diêu Khiêm đứng ở giữa, mặc âu phục, vóc người cao lớn vạm vỡ. Đa phần đàn ông phải qua năm tháng lắng đọng mới có được khí chất thuần hậu, đến tầm ba bốn mươi tuổi mới đạt đỉnh; anh lúc này vừa đúng độ, trông vẫn trẻ trung tuấn tú.
Chỉ là, trong ký ức của Trúc Quân, anh là bậc trưởng bối, nghiêm nghị lạnh lùng; hoặc cũng có thể vì năm đó anh địa vị cao, quyền thế lớn, mang theo cảm giác áp bức, nên cô chưa từng thấy anh nở nụ cười, có lẽ cũng từng có, chỉ là cô không nhớ rõ, trong thâm tâm luôn sợ mà tránh xa. Một người như vậy suýt nữa đã thành cha chồng của cô, cô không chỉ một lần cảm thấy rợn người.
“Chắc tôi nhận nhầm người.” Cô khép album lại, trả cho Khương Vân Xuân, nói bằng giọng nhạt nhẽo.
Đêm hôm Trúc Quân từ Anh sang Hồng Kông, cô xách hành lý không nghỉ ngơi, bắt xe thẳng đến nhà Diêu Khiêm. Cô cứ tưởng người như anh sẽ ở biệt thự vườn hoa dựa núi trông sông, nào ngờ lại ở Đại lộ Hoàng Hậu nơi đèn neon chảy tràn.
Dù là ban đêm, nơi đây vẫn phồn hoa không giảm: xe điện, ô tô, xe kéo chạy rầm rập, còi inh ỏi khắp phố, át cả thứ nhạc ủy mị trong radio. Đàn ông vest chỉnh tề đội mũ lễ, phụ nữ mặc Âu phục tay áo rộng váy xòe lớn; còn có ăn mày, kỹ nữ, A Tam đầu đỏ, kẻ thì ngồi rúc trong góc tối của những cửa tiệm sáng trưng, kẻ thì ngồi ngay ven đường trước các quầy ăn nghi ngút khói.
Thoáng chốc, cô ngỡ mình đang đứng ở Đại Thế Giới trên đường Nam Kinh Thượng Hải.
Cô đợi một lúc lâu mới có nữ hầu ra mở cửa. Nữ hầu nghe rõ ý định liền dẫn cô vào trong. Ngôi nhà rất rộng, hành lang cầu thang quanh co uốn lượn, thấp thoáng còn nghe tiếng đàn piano du dương, tiếng hát vang.
Nữ hầu bật đèn trong phòng mời cô ngồi, lấy chén có nắp rót trà sôi, lúc đi nói: “Tiên sinh đang đãi khách, phiền cô đợi thêm chút, đừng vội nhé!”
Nói là thế, Diêu Khiêm vẫn đến rất nhanh. Anh mặc trường sam mã quái, thời này trông khá hiếm. Anh khẽ gật đầu với cô, vén áo ngồi xuống, không nói gì, chờ cô mở lời.
Trúc Quân vội lấy thư của giáo sư Johnson từ túi xách đưa qua. Diêu Khiêm nhận lấy, xé phong bì, đưa về phía ánh đèn, chậm rãi đọc.
Ngoài cửa sổ có gánh hàng rong bán bánh bát nhỏ kéo dài giọng rao, thở hổn hển; có lẽ đi mệt rồi, đành đứng nghỉ bên vệ đường ngoài cửa sổ.
Cửa lại bị đẩy ra. Không chỉ Trúc Quân, Diêu Khiêm cũng ngẩng đầu nhìn. Người vào là một phụ nữ mặc sườn xám nhung thêu mẫu đơn màu xám bạc. Chiếc sườn xám vừa vặn ôm lấy đường cong nhấp nhô của cô; mái tóc uốn mùi hương chải ngược, lộ vầng trán trắng. Cô cong môi cười, muốn vào mà chưa vào, chỉ đứng đó không nói.
Diêu Khiêm “soạt” đứng dậy nghênh ra, cười nhỏ giọng hỏi: “Sao em lại đến?”
“Chị Khánh nói cô tiểu thư này mặt lạ mà lại xinh theo kiểu tà khí, chưa từng gặp, làm em tò mò lắm.”
“Là tò mò, hay là cảnh giác?”
“Anh nói sao thì là vậy!”
Cô tựa lưng vào khung cửa, giơ tay vuốt mấy sợi tóc con bên tai, cười tươi, khóe mắt hơi xếch; ánh mắt lướt qua cánh tay anh nhìn vào trong phòng, rồi bỗng khựng lại.
Anh bị chọc cười, dùng đầu ngón tay khẽ cọ lên má cô: “Nghĩ linh tinh thôi. Là Trúc Quân.” Anh đưa bức thư cho cô xem: “Chuyện sang Cambridge giảng dạy có manh mối rồi.”
“Đến nhanh thật! Tiếng Anh của em vẫn mười phần thông chín.” Cô cũng không xem, chỉ gấp tờ giấy đi gấp lại, gấp thành một bông hoa.
“Đừng lo, anh dạy em mà…”
Hai người thản nhiên trò chuyện như chốn không người. Trong lòng Trúc Quân kinh hãi tột độ. Cô từng nghe Mỹ Quyên nhắc rằng mẹ cô ấy là Lâm Anh Trân đã về quê Tô Châu sinh sống; sau đó ở Anh quốc cũng nghe vài lời đồn. Vốn nửa tin nửa ngờ, lúc này cô không thể không tin. Sự thật chứng minh, hai người họ đã che mắt thiên hạ, ở Hương Cảng thành một đôi uyên ương.
Nữ hầu đến giục, nói khách sai đến giục. Diêu Khiêm đi trước, Anh Trân thì lại gần chào hỏi Trúc Quân.
Nhìn nụ cười và dáng vẻ ung dung của Anh Trân, Trúc Quân cảm thấy không giống ba năm không gặp, nhiều lắm chỉ như ba ngày. Anh Trân nghe cô nói vội đến đưa thư, còn chưa đặt khách sạn liền nói ngay: “Cô ở luôn chỗ chúng tôi đi, có phòng trống, tiện lắm.”
Anh Trân bảo nữ hầu mang hành lý của Trúc Quân lên phòng khách; nghĩ ngợi một chút lại cười nói: “Còn sớm lắm, nếu cô chưa mệt thì cùng chúng tôi ra phòng khách góp vui.”
Trúc Quân theo sau Anh Trân lên lầu. Anh Trân không đi giày cao gót, chỉ mang đôi giày thêu sa tanh xám bạc; bước chân nhẹ nhẹn, chẳng mấy chốc đã nghe trong phòng tiếng cười nói rộn ràng. Ánh đèn vàng mờ hắt ra, kéo dài những bóng người bò kín khung cửa sổ.
Anh Trân đẩy cửa bước vào. Trúc Quân thấy trong phòng đầy nam nữ, chừng bảy tám người, vây quanh bàn tròn ngồi đứng lẫn lộn, trên bàn bày trà nước bánh trái. Một bà mệnh phụ thân mật khoác tay Anh Trân, nhìn Trúc Quân hỏi: “Vị này là?”
Diêu Khiêm tiếp lời, thờ ơ nói: “Vợ của Phạm Dục Thanh.”
Mọi người nhìn cô, im lặng thoáng chốc, rồi rất nhanh kéo sang chuyện khác. Có người cười hỏi: “Nghe nói bà Diêu hát ‘Đại Cửu Liên Hoàn’, giờ có thể hát không? Chúng tôi đợi cả tối rồi.”
Anh Trân không câu nệ, kéo Trúc Quân ngồi xuống trước, rồi bưng trà uống mấy ngụm làm ướt cổ. Diêu Khiêm hứng chí muốn đệm nhạc cho cô, anh cầm cây nhị hồ chỉnh dây; bên cạnh còn có một ông lão tóc bạc mặt hồng chuẩn bị gõ dương cầm.
Ban đầu Trúc Quân còn thấy khó xử vì Diêu Khiêm lộ thân phận của cô; nhưng thấy mọi người chẳng để tâm, cô lại thở phào nhẹ nhõm. Tiếng dương cầm trong trẻo dạo đầu, Diêu Khiêm kéo nhị hồ, giai điệu lên xuống. Hai người hòa quyện uyển chuyển; anh ngước nhìn Anh Trân, nét mặt cô trầm ổn, đáy mắt một mảng dịu dàng.
Anh Trân đứng hát:
“Trên có thiên đường,
Dưới có Tô Hàng.
Hàng Châu Tây Hồ,
Tô Châu có Sơn Đường.
Ôi chao, hai chốn đẹp thay,
Ôi chao ôi ôi chao,
Ôi chao, hai nơi phong cảnh tuyệt vời...”
Cô vốn người Tô Châu, một giọng Ngô mềm mại mê người. Mỗi khi đến chữ cuối câu, hoặc hát đến đoạn “ôi chao ôi chao”, cô cố ý kéo dài âm, như mạch nha tan chảy trong nồi nhỏ, quấn quýt thành từng sợi mật ngọt dày. Cô còn thấy chưa đủ, bèn duỗi cánh tay ngọc, khẽ xoay cổ tay thon. Ngón lan hoa linh động; cô hơi xếch đôi phượng nhãn dài hẹp, nhìn về phía Diêu Khiêm, ánh mắt lưu chuyển, tràn đầy phong tình.
Diêu Khiêm bật cười ngay.
Mọi người vỗ tay reo hò.
Trúc Quân chưa từng thấy Anh Trân và Diêu Khiêm như thế. Họ thần thái rạng rỡ, mặt mày phơi phới; mọi chuyện xưa đối với họ chỉ như ánh sáng lướt qua, đã sớm quẳng ra sau đầu. Điều đó khiến cô đến mức nghi ngờ mình đang mơ.
Nữ hầu bế vào một bé gái chừng ba bốn tuổi. Bé mặc áo dài màu vàng ngỗng, tóc tết bím xoăn tơ. Có bà nói: “Thanh Thanh ngủ một giấc lâu thật.”
Diêu Khiêm đưa nhị hồ cho người bên cạnh, từ tay nữ hầu bế bé gái đặt ngồi lên đùi mình, chỉ vào Anh Trân nói với bé: “Nghe mẹ hát kìa con.”
Bé ngoan ngoãn tựa trong lòng anh. Con bé xinh xắn; thoạt nhìn giống Anh Trân, nhìn kỹ lại giống Diêu Khiêm, nhất là đôi mắt đào hoa, chỉ cần đưa tay dụi là ướt sũng nước mắt.
Tâm cảnh của Trúc Quân lúc này thực khó nói thành lời.
Tan tiệc, Diêu Khiêm bế con gái tiễn khách; nữ hầu bắt đầu dọn phòng. Anh Trân chào nữ hầu một tiếng, hào hứng dẫn Trúc Quân ra ngoài ăn bánh canh năm mới.
Hai người đi chầm chậm dọc lối dốc lát đá xanh. Ở đây đèn đường hỏng hai trong ba, toàn nhờ ánh neon chớp tắt soi lối. Anh Trân kể về lai lịch gánh hàng bán hoành thánh: người bán vốn cũng mưu sinh ở Thượng Hải, sau lỡ tay giết người, bất đắc dĩ trốn sang Hồng Kông, lại làm nghề cũ.
Cô nhìn Trúc Quân, hỏi: “Cô có sợ không?”
Sống lưng hơi lạnh, Trúc Quân lại lắc đầu.
Cô có thể nói gì đây? Thời thế bây giờ loạn lắm!
Anh Trân cười, khe khẽ nói: “Cô không giống mẹ cô.”
“Mẹ tôi…” Một cậu thiếu niên đi xe đạp huýt sáo vút qua bên cạnh Trúc Quân, nhanh như chớp, giống hệt một con bồ câu vỗ cánh. Cô né sang bên đứng lại, rồi mới tiếp tục hỏi: “Mẹ tôi mất tích mấy năm rồi, trước kia bà Diêu là người thân thiết nhất với bà. Bà có biết bà ấy đang ở đâu không? Hay là… bà ấy có thể sẽ đi đâu? Những năm này bà ấy có liên lạc với bà không?”
Anh Trân không nói gì, như đang hồi tưởng, lại như căn bản chẳng buồn trả lời, hai người lặng lẽ bước trên bậc thềm. Ven đường trồng một cây đang nở hoa, gió chiều thổi qua từng đợt, nó liền r*n r* không ngớt.
Anh Trân bỗng chỉ về phía trước: “Đến rồi.”
Trúc Quân nhìn sang, tầm mắt vẫn mờ mịt, cô chỉ thấy một ngọn đèn dầu hỏa sáng lên, lại bị làn khói bốc ra từ nồi nhuộm cho mông lung.
Anh Trân nói: “Quá khứ tôi quên hết rồi, không chỉ là chuyện, mà cả người, cắt đứt cho sạch!”
Người bán hàng rong thấy có người quen tới, trong mắt lóe lên tia hy vọng. Ông cười chào hỏi: “Ôi, bà Diêu dẫn bạn tới à! Ngồi đi, ngồi đi, hai bát bánh canh niên cao nhé? Một trứng hay hai?”
“Trứng thì tôi không lấy, vừa ăn điểm tâm đêm xong, bụng không đói, chỉ thèm miệng thôi.” Anh Trân ngừng một chút, hỏi Trúc Quân: “Cô có muốn thêm trứng không?”
Trúc Quân còn chưa kịp nói, người bán đã nhiệt tình tiếp lời: “Trứng trà của tôi nấu bằng trà Long Tỉnh mới thay đấy, mùi thơm đặc biệt, cô nếm thử đi, khác hẳn chỗ khác.”
Ăn xong bánh canh niên cao, trên đường về, hai người gặp Diêu Khiêm đang đi tìm. Anh chẳng hề kiêng dè, vòng tay ôm lấy vai Anh Trân. Anh Trân cười hỏi anh: “Sao anh lại tới?”
“Sợ em lạc đường.” Diêu Khiêm cười nói, “Quên chuyện lần đầu mới tới Hồng Kông rồi à? Là ai tìm không ra đường về nhà, ngồi xổm bên đường khóc thế?”
Nhắc tới mấy chuyện vừng mè cũ rích ấy, Anh Trân kêu “á” một tiếng, đưa tay bịt miệng Diêu Khiêm, ý bảo anh đừng nói nữa. Diêu Khiêm khẽ cắn ngón tay cô, nụ cười trầm trầm.
Trúc Quân tự giác lùi ra phía sau họ, giẫm lên bóng hai người, nhìn họ trêu đùa cãi cọ, chậm chạp nhớ lại lời Anh Trân nói khi nãy. Xem ra cô thật sự đã quên sạch quá khứ rồi, đến cả Mỹ Quyên cũng không nhắc một chữ.
Cô là người lòng dạ cứng rắn, Diêu Khiêm cũng vậy, hai người quả đúng là trời sinh một cặp.
–
Chú Lê không thất hứa, sáng sớm trời còn chưa sáng đã cho nữ hầu tới gõ cửa phòng Trúc Quân. Cô thức trắng cả đêm, hễ có tiếng động là tim đã đập thình thịch, vội đáp lời rồi dậy ngay, cuống quýt mặc đồ rửa mặt.
Ăn sáng trong phòng khách, chú Lê vừa uống cháo loãng vừa thấy quầng mắt xanh xám của cô, quan tâm hỏi: “Tối qua không ngủ ngon à?”
Trúc Quân lắc đầu, hiển nhiên ông không biết chính mình là đầu sỏ gây nên, cô cũng không muốn để ông biết.
Khi Trúc Quân bước ra cửa, người phụ nữ trẻ đuổi theo đưa khăn tay, lúc vội vàng, Trúc Quân quên mang theo. Thật ra người phụ nữ trẻ có thể sai nữ hầu mang ra, vậy mà lại nhất định tự mình chạy một chuyến. Cô ấy còn bó chân nữa kia.
Hai người họ tối qua thành rồi nhỉ! Trong lòng Trúc Quân nảy sinh ý nghĩ tà tà.
Cô nhìn ra được sự lưu luyến của người phụ nữ trẻ, nhưng người đàn ông thì vô tình, thà nói chuyện với bác Mãn, A Phúc còn hơn liếc nhìn cô ấy một cái. Anh không quay đầu lại, cứ thế chất hành lý lên xe, trong dáng vẻ có một thứ cảm giác giải thoát, như sắp lao về phía ánh sáng.
Xe sắp ra khỏi hẻm Thính Vũ, cô ngoái đầu nhìn lại. Trời xanh nắng sáng, một con hẻm hẹp và sâu, gió rít từng cơn. Người phụ nữ trẻ vẫn đứng ngẩn tại chỗ, theo xe rời đi mà dần dần nhỏ lại, tựa như dấu chấm câu cuối cùng khi tiểu thuyết bình dân của Trương Hận Thủy khép lại, chỉ còn lưu lại một cảm giác trống vắng.
Chú Lê đưa cô tới La Hồ rồi nhanh chóng rời đi. Trúc Quân tưởng mình cuối cùng đã thoát thân, nào ngờ lại thấy ở cửa kiểm vé xuất cảnh, Thư ký Lữ cùng bốn năm người khác đang đợi ở đó.
Anh ta không phải tới bắt cô về, trái lại đưa cho cô một chiếc rương, cười híp mắt nói: “Thưa phu nhân, Bộ trưởng Phạm chúc phu nhân thượng lộ bình an!”
–
Ngày tàu cập bến Thập Lục Phố Thượng Hải, Khương Vân Xuân phải đợi Tào Vi Dân bọn họ cùng đi. Trúc Quân chào tạm biệt cô ấy, xách hành lý ra khỏi khoang, xuống tàu trước.
Thư ký Lữ trong bộ vest chỉnh tề, đeo kính gọng mảnh viền vàng, dáng vẻ nho nhã đứng giữa đám đông, vừa thấy cô liền bước tới đón.
“Thưa phu nhân, Bộ trưởng Phạm chúc phu nhân thượng lộ bình an”
Câu nói ấy dường như còn văng vẳng bên tai, Trúc Quân lại nghe anh ta mở miệng: “Hoan nghênh phu nhân trở về!”
Tháp đồng hồ cao vút trên Bến Thượng Hải, con lắc đung đưa phát ra tiếng vang ầm ầm, tích tắc, tích tắc, một đàn bồ câu kinh hãi ào ào bay vút qua.
“Bà Phạm, ngày sau gặp lại.” Khương Vân Xuân cùng các bạn học lướt qua bên cạnh Trúc Quân, bỗng ngoái đầu mỉm cười với cô.
Ngày sau gặp lại ư?
Trúc Quân sững sờ.
Thượng Hải là một chiếc kính vạn hoa, tôi đã nhìn thấy một thế giới rực rỡ muôn màu.
HẾT TRUYỆN
