Năm thứ năm, cũng là năm cuối nhiệm kỳ của Sa Thụy Kim ở Hán Đông.
Nỗi buồn biệt ly âm thầm lan tỏa khắp cõi lòng.
Nơi chốn mới, con người mới, hẳn rồi sẽ có những câu chuyện mới. Còn người cũ thì nên ở lại chốn xưa, từ đây mỗi người một ngả, không còn vấn vương gì nữa.
Tôi lo lắng cho chặng đường mù mịt phía trước, bởi chỗ dựa lớn nhất, cũng là chỗ dựa duy nhất của tôi sắp rời khỏi Hán Đông, trong khi tôi vẫn chưa tốt nghiệp.
Cái “thế giới mới” mà người ta vẫn hay nói đến sau tốt nghiệp rốt cuộc nằm ở đâu? Tôi mới chỉ vừa chạm đến nó chứ chưa kịp trông thấy toàn bộ.
Cô Vương rất quan tâm tới tôi. Vì cô là giảng viên nữ nên cũng tiện đưa tôi theo trong các chuyến công tác và tham dự hội thảo. Sau khi hoàn thành số tín chỉ bắt buộc vào năm đầu tiến sĩ, sang năm thứ hai tôi thường xuyên theo cô đi dự hội thảo. Thỉnh thoảng trong một vài dịp thích hợp, cô Vương cũng chủ động giới thiệu tôi với các thầy cô khác.
Nghiên cứu sinh và giáo sư hướng dẫn có mối liên hệ mật thiết, thành bại gắn liền với nhau. Khi ra ngoài xã giao, nếu người ta không biết bạn là ai, họ sẽ chỉ nhìn vào hai yếu tố là trường học và người hướng dẫn để đánh giá con người bạn.
Giới học thuật nhỏ bé đến mức đáng thương. Những người đặt nền móng cho từng chuyên ngành đều đã vang danh từ lâu, trải qua hàng chục năm giảng dạy và nghiên cứu, học trò của họ giờ nắm giữ vị trí ở hầu khắp các trường đại học lớn trong cả nước. Từ trước đến nay, họ vẫn luôn ưu tiên đào tạo, tiến cử và tuyển dụng học trò do chính mình dìu dắt.
Khối ngành khoa học xã hội và nhân văn vốn đã ít đất dụng võ, thành tựu học thuật lại mang tính chủ quan cao, không có đáp án chuẩn mực, nội dung nghiên cứu lại xa vời với đời sống thực tiễn nên gần như không thể kiểm chứng. Chính vì vậy, sự nâng đỡ từ các bậc tiền bối lại càng trở nên quan trọng.
Hệ thống nói trên chính là điều mà trước đây tôi từng e ngại. Giờ đây tôi đã có chỗ dựa vững chắc, trở thành người trong nhóm được hưởng lợi nên tâm thế cũng ít nhiều đổi khác. Mỗi khi nghĩ đến những điều này, tôi chỉ biết ngậm ngùi thở dài.
Học tiến sĩ chưa bao giờ là chuyện đơn giản. Học vị tiến sĩ là miếng bánh hấp dẫn mà người người ao ước, nhưng để lấy được nó thì vô cùng gian nan. Điều kiện tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Chính trị và Pháp luật tương đối khắt khe. Chưa nói đến việc ít nhất phải có hai bài đăng trên tạp chí học thuật trọng điểm do Đại học Nam Kinh công bố, chỉ riêng luận án tốt nghiệp dài tới hai trăm nghìn chữ cũng đã đủ khiến sinh viên trầy da tróc vảy.
Những ngày tháng sống thong dong, vô lo vô nghĩ như mùa hè năm tốt nghiệp thạc sĩ, khi mà mối bận tâm duy nhất của tôi chỉ là chuyện tình cảm giữa mình và Sa Thụy Kim trở nên vô cùng hiếm hoi. Từ khi học tiến sĩ, tôi đã không còn những khoảng thời gian như vậy nữa.
Năm đầu tiên của chương trình tiến sĩ chủ yếu là học trên lớp, do đó tôi vẫn có thể gặp gỡ và trò chuyện thường xuyên với Sa Thụy Kim. Sang năm thứ hai, tôi phải theo giáo sư đi khắp cả nước tham dự hội nghị, viết và chỉnh sửa tiểu luận rồi gửi đăng, tìm hướng nghiên cứu cho luận án, chuẩn bị cho các kỳ thi học phần, đồng thời hoàn thành các phần việc được trả thù lao. Bấy nhiêu công việc chồng chất khiến tôi bận đến mức quay cuồng.
Lại đúng vào năm cuối, vào thời khắc chia ly đượm buồn như thế này, việc vùi đầu vào học hành như một cách trốn tránh những chất vấn về bản thân, về mối quan hệ sai trái giữa tôi và ông, trốn tránh cả nỗi luyến tiếc khi mọi chuyện sắp sửa kết thúc. Lâu dần, lối suy nghĩ ấy đã trở thành phản xạ quen thuộc trong tôi.
Sau khi trút bỏ gánh nặng tâm lý, tôi trở nên thoải mái hơn trong cách nói năng lẫn cư xử. Dù sao thì cái kết cũng đã được định sẵn, chi bằng tranh thủ khoảng thời gian cuối cùng để tận hưởng niềm vui, giải thỏa áp lực từ học hành lẫn công việc.
Tôi cũng bắt đầu lơ là trong việc mang theo máy ghi âm, để rồi sau đó gây ra một rắc rối lớn. Nhưng chuyện này ta hãy khoan bàn đến ở đây.
Việc Bí thư Tỉnh ủy bất ngờ kiểm tra căng tin trong quá trình thị sát tại các trường đại học cũng từng xảy ra ở tỉnh khác, do đó hành động khác thường lần này của Sa Thụy Kim cũng không có gì đáng nói.
Ông đi lên từ cơ sở, trong bản tính có sẵn sự quyết liệt và cứng rắn, không phải kiểu người do dự, lo trước lo sau. Vậy nên khi đó nổi hứng thì làm thôi.
Nhưng tôi không ngờ đây mới chỉ là khúc dạo đầu cho sự “khác thường” của ông. Vào năm cuối cùng, ngay cả Sa Thụy Kim cũng chẳng buồn kiêng dè gì nữa.
Hôm đó, tôi đến đầu hẻm theo chỉ dẫn trong tin nhắn, bất ngờ trông thấy người đang đợi mình không phải tay tài xế lần trước, mà là Trưởng phòng Bạch.
Chúng tôi cất tiếng chào hỏi, anh ta nói: “Cô Cố, lâu rồi không gặp.”
Tôi khẽ gật đầu rồi nương theo lời đối phương mà chào lại, nhưng ngay sau đó lại thấy lúng túng khi chợt nhận ra mối quan hệ giữa tôi và Sa Thụy Kim chẳng còn là bí mật với Trưởng phòng Bạch. Nhưng tôi không còn là đứa trẻ nhút nhát và ngờ nghệch của mấy năm về trước. Sau khi ở bên Sa Thụy Kim và theo chân cô Vương đi khắp nơi tham dự hội nghị, tôi đã học được cách đeo lên mình chiếc mặt nạ xã giao, có thể chuyện trò cùng người lạ mà không hề cảm thấy nao núng.
Trên xe, tôi và Trưởng phòng Bạch nói chuyện khá thoải mái. Anh ta là thư ký riêng của Bí thư Tỉnh ủy, khả năng quan sát sắc mặt, nắm bắt tâm lý và kỹ năng giao tiếp đã đạt đến trình độ lão luyện. Còn tôi chỉ là một sinh viên chuyên làm chân sai vặt cho thầy cô, thuộc tầng lớp dưới cùng của giới học thuật, nên dù có ở bên lãnh đạo cấp cao mấy năm thì cũng chẳng học nổi thói hống hách.
Chúng tôi tán gẫu vu vơ về thời tiết gần đây của Hán Đông và tình hình phát triển văn hóa, du lịch tại quê nhà. Chẳng bao lâu sau, chiếc xe tiến vào khu nhà Tỉnh ủy. Trông thấy khung cảnh vừa lạ lẫm vừa quen thuộc ngoài cửa sổ, tôi thoáng sững người.
Đến khi chiếc xe dừng lại trước căn biệt thư ba tầng mà đã hơn hai năm tôi chưa đặt chân đến, tôi không khỏi ngập ngừng cất tiếng: “Thư ký Bạch, có phải… có phải đi nhầm chỗ rồi không…”
“Không nhầm đâu, cô Cố.”
Tôi mấp máy môi, định nói: “Hay anh đưa tôi về đi, tôi không muốn xuống xe tại đây”, nhưng cuối cùng vẫn nhịn lại. Lời này quả là không biết thân biết phận.
Thực ra tôi cũng chỉ từng tới đây vài lần. Sau khi có quan hệ thể xác với Sa Thụy Kim, đã có một khoảng thời gian tôi thấp thỏm lo âu, sợ rằng trong mấy lần lui tới đã để lại dấu vết gì, rồi nhỡ đâu có một ngày bị Ủy ban Kiềm tra Kỷ luật gọi lên nói chuyện.
Tôi không dám hỏi Sa Thụy Kim những chuyện này vì sợ chạm phải điều kiêng kỵ của ông. Thời gian cứ êm ả trôi qua, chẳng có chuyện gì xảy ra nên dần dà tôi cũng yên tâm hơn hẳn.
Cứ ngồi mãi trong xe cũng không giải quyết được gì, tôi quyết định bước xuống. Thật không ngoa khi nói tôi đã phải gom hết can đảm để tiến về phía trước, như một kẻ chẳng còn đường lui.
Sa Thụy Kim ra tận cửa đón tôi, trông không có gì khác so với thường ngày.
Ông có quyết định của riêng mình, tôi cũng chẳng buồn hỏi.
Dù ông làm vậy là vì sắp hết nhiệm kỳ nên muốn buông thả lần cuối hay còn lý do nào khác, tôi cũng không muốn bận tâm nữa.
Mọi chuyện sắp đi đến hồi kết, đào sâu vào vấn đề đó thì cũng để làm gì? Huống hồ, đến ngay cả suy nghĩ của bản thân tôi còn chẳng hiểu rõ thì sao nhìn thấu nổi những toan tính trong đầu Sa Thụy Kim?
Tất nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là bài tiểu luận của tôi vẫn chưa hoàn thành, tài liệu thì chưa phân kỳ xong, vậy nên những chuyện khác đều phải xếp sau hết.
Vừa bước vào nhà, tôi đã nhào tới ôm chầm lấy ông. Khoảng thời gian trước tôi phải theo cô Vương tham dự hội thảo, đi công tác rồi tới tỉnh khác khảo sát thực địa, lâu lắm rồi không được gặp Sa Thuỵ Kim. Giờ đây tôi chỉ muốn ôm lấy ông thật chặt cho thoả nỗi nhớ. Mùi hương quen thuộc vấn vương quanh chóp mũi, tôi vừa ôm vừa trách ông sao muộn thế này mới gọi tôi qua, suốt cả chiều tôi nhìn bia đá đến hoa cả mắt rồi.
Ông cúi đầu hôn lên cổ tôi, hơi thở nóng rực phả vào da khiến tôi rùng mình. Tôi cố không để bản thân co rúm người vì nhột, cảm giác tê dại chạy dọc theo sống lưng lên thẳng vỏ não. Ông khoá chặt tôi trong vòng tay, dịu dàng hôn lên môi và từ từ m*n tr*n. Tôi ôm lấy ông như đang ôm một tấm chăn dày, ấm áp và khiến người ta cảm thấy an lòng.
Vài giọt nước mắt trào ra vì kh*** c*m, ngay cả hơi thở cũng bị dồn nén lại.
Thôi kệ vậy, cứ để mặc ông đi.
Cần gì phải đắn đo chuyện đạo đức hay tình cảm. Chân tình là thứ có thể thay đổi trong chớp mắt, chỉ có hiện tại là nằm trong tầm tay, chỉ có khoái lạc lúc này mới là điều chân thực.
Gặp nhau tại khu nhà Tỉnh uỷ quả thực rất liều lĩnh, may mà năm nay cả hai chúng tôi đều bận ngập đầu.
Sa Thuỵ Kim thì tập trung thu xếp công việc để kết thúc nhiệm kỳ một cách êm đẹp, không xảy ra sai sót. Còn tôi thì phải tới các tỉnh làm khảo sát thực địa, tích lũy tài liệu cho bài tiểu luận và luận án tiến sĩ. Vậy nên, năm cuối này chúng tôi hiếm có thời gian bên nhau. Chỉ có vài lần tôi được Trưởng phòng Bạch chở đến khu nhà Tỉnh ủy qua đêm, còn phần lớn thời gian, chúng tôi chỉ hẹn hò đơn giản, cùng leo núi hoặc đi dạo.
Cuối năm, Sa Thụy Kim phải đến Chu Hải gặp một vài vị lãnh đạo chủ chốt và trình bày báo cáo tổng kết công tác. Bắc Kinh quá lạnh, các vị lãnh đạo cấp cao hầu hết đều đã có tuổi, không chịu được giá rét nên hằng năm vào thời điểm lạnh nhất họ lại tới phương Nam.
Tôi cũng chuẩn bị về nhà ăn Tết. Hai năm nay, tôi theo chân cô Vương tham gia các hoạt động, tự mình trải nghiệm nên cũng được mở mang tầm mắt, tính cách được mài giũa trở nên ôn hoà hơn, đồng thời thấu hiểu nỗi vất vả trong cuộc sống của mỗi người. Nhờ vậy mà khi nói chuyện cùng bố mẹ, tôi cũng nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Trên đời này, phần lớn mọi người đều sống quá vất vả.
Vài ngày trước khi về nhà, tôi bất ngờ nhận được cuộc gọi từ cô Vương. Cô đang đi du lịch nước ngoài cùng gia đình thì Ban Công tác Mặt trận Thống nhất của Tỉnh ủy bất ngờ gọi điện báo rằng tập văn kiện nộp trước Tết có vấn đề, cần cô bổ sung chữ ký và bản thuyết minh gấp.
Vì đang bận viết đề cương luận án nên tôi vẫn ở lại trường. Mà xưa nay tôi luôn là người làm việc đáng tin, nên cô đành nhờ tôi gấp rút mang tài liệu đến Tỉnh ủy.
Tôi vừa gọi video vừa vội vã chạy đến văn phòng của cô, làm theo hướng dẫn để tìm bản thuyết minh, rồi sao chép chữ ký điện tử của cô, dán vào tài liệu còn thiếu chữ ký, in ra và nhanh chóng mang đến Tỉnh ủy nộp.
Cô Vương lẩm bẩm: “Nghỉ lễ mà sao họ còn làm việc không biết.”
Tôi đã quen thân với cô nên nói đùa: “Có khi là tăng ca rồi sau nghỉ bù đó cô, nhận lương gấp ba cũng ấm đấy ạ.”
Sau đó tôi chúc cô cùng gia đình đi du lịch vui vẻ. Cô cũng hỏi han tôi vài câu, dặn dò rằng cứ từ từ viết đề cương luận án, đừng ép mình quá mức.
Tôi mỉm cười đáp lời, rồi gọi xe đi thẳng tới Tỉnh ủy.
Trước cổng trụ sở Tỉnh ủy, tôi phải giải trình với nhân viên gác cổng hồi lâu, còn đưa cả tài liệu ra làm bằng chứng. Cảnh vệ gọi điện thoại xác minh, sau đó mới cho tôi đăng ký thông tin để vào.
Tôi lần theo biển chỉ dẫn mới tìm được đến Ban Công tác Mặt trận Thống nhất. Đang dịp nghỉ lễ, lại còn là Tết Nguyên đán nên dù hành lang sáng đèn nhưng phòng làm việc của ban lại đóng cửa im lìm.
Tôi cảm thấy có gì đó không ổn nên vội đi tới cầu thang gọi điện cho cô Vương để xác nhận, nhưng còn chưa kịp nối máy thì đã nhận được cuộc gọi từ Sa Thuỵ Kim.
“Đến văn phòng của tôi.” Câu nói ngắn gọn của ông như một tia sét đánh giữa trời quang.
Sa Thuỵ Kim điên rồi sao? Tôi đứng chết lặng ở lối vào hành lang, không thể tin nổi vào câu mình vừa nghe. Ông không sợ chết, nhưng tôi thì có.
“Đừng nghệt ra đó nữa, mau qua đây đi.”
Khoảnh khắc đó, tôi gần như muốn quay đầu bỏ chạy. Nhưng rồi, chân vẫn bước từng bước, từng bước, tiến về nơi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên, cũng là nơi khởi nguồn cho mọi chuyện.
Hành lang tối mịt, tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực, âm thanh dồn dập ấy như muốn xé toạc cả màng nhĩ.
Dù là nghỉ Tết thì trụ sở cơ quan nhà nước cũng không thể vắng tanh như vậy, lúc nào chẳng có người trực ban…
Sa Thuỵ Kim, sao ông dám…
Tôi vừa đi vừa nghiến rằng rủa thầm trong bụng.
Đúng là gan to tày trời, đừng có hại tôi chết oan đó.
Đường đến văn phòng Bí thư Tỉnh uỷ thông thoáng không chút trở ngại, cũng chẳng thấy bóng người. Tôi giữ vẻ mặt lạnh tanh, cố gắng tỏ ra bình tĩnh, chậm rãi tiến về phía văn phòng của ông, đồng thời tự thôi miên chính mình: Tôi đến nộp tài liệu, lý do chính đáng, trước giờ chưa từng tới đây nên bị lạc đường thôi.
Chỉ cần có ai đó chặn tôi lại hỏi danh tính, tôi sẽ nói như vậy, nộp xong tài liệu là quay người bỏ chạy ngay, tuyệt đối không ngoái đầu nhìn lại.
Thế nhưng chẳng có một ai.
Sau khi bước vào văn phòng, Sa Thuỵ Kim đóng cửa lại, còn tôi thì vẫn ngẩn ngơ không thốt nên lời.
Ông khẽ cười rồi đưa tay khua qua khua lại trước mặt tôi: “Sao thế? Mới nửa tháng không gặp mà không nhận ra tôi rồi à?”
Tôi giật bắn người, lập tức lùi về sau một bước, cảm thấy bức bối như có kim đâm sau lưng: “Ngài!”
Những câu như “ngài điên rồi sao?” hay “ngài không sao chứ?” đã ra đến cửa miệng nhưng rốt cuộc vẫn không thốt ra nổi. Cuối cùng, tôi chỉ nói: “Không phải ngài đang ở Chu Hải sao?”
Ông tiến lên một bước, tôi cảnh giác lùi lại về sau. Thế nhưng ông chỉ rút tập tài liệu trên tay tôi rồi đặt lên bàn.
Đến lúc này tôi cũng đã xâu chuỗi được mọi chuyện và hiểu ra tất cả. Cảm thấy vừa hoảng vừa giận, tôi rốt cuộc vẫn phải thốt lên: “Ngài điên rồi sao?”
Ông mỉm cười rồi đáp: “Đừng sợ, tôi biết chừng mực.”
Chừng mực cái con khỉ!
Trong văn phòng Bí thư Tỉnh uỷ treo bức thư pháp: Vô dục tắc cương*. Bốn chữ được viết rõ ràng, nét bút mạnh mẽ đầy khí phách.
(* 无欲则刚: Câu này bắt nguồn từ “Luận Ngữ” của Khổng Tử, ý nói người không bị d*c v*ng làm mờ mắt thì sẽ giữ được phẩm chất ngay thẳng, không dễ bị cám dỗ hay khuất phục. Câu này thường được dùng để đề cao đức tính thanh liêm, chính trực, đặc biệt trong giới quan chức.)
Lần trước đến đây, tôi không dám nhìn ngang ngó dọc nên không chú ý đến nó. Lúc này đây, bức thư pháp ấy đang treo ngay sau lưng Sa Thụy Kim, một nửa đã bị thân mình ông che khuất. Còn tôi thì nằm ngửa trên bàn làm việc của Bí thư Tỉnh uỷ, chẳng khác nào một trong vô số văn kiện từng được ông xem xét phê duyệt.
Tôi nghĩ, người đàn ông này đã mất trí vì tôi rồi.
