Đại học X là một trong những trường thuộc Dự án 985 có thứ hạng cao nhất trong tỉnh, theo bảng xếp hạng của Shanghai Ranking. Với bề dày lịch sử, nhà trường luôn đề cao giá trị nhân văn và lấy việc bồi đắp con người làm trọng tâm trong định hướng giáo dục.
Sau khi trở về từ Mỹ, Cố Tư Vũ với bản lý lịch ấn tượng đã xuất sắc vượt qua kỳ thi viết và vòng phỏng vấn, trở thành giảng viên Khoa Triết học của Đại học X.
Trước khi chính thức đứng lớp giảng dạy, họ phải trải qua một năm đào tạo, đồng thời đảm nhiệm vai trò chủ nhiệm lớp cho lứa thạc sĩ mới nhập học.
Cô không phải kiểu người thích ôm đồm công tác quản lý, cũng không mấy hứng thú với việc tổ chức hoạt động ngoại khóa cho lớp. Ngoài các hoạt động đoàn thể do nhà trường quy định và hai buổi sinh hoạt lớp mỗi học kỳ, cô gần như tách biệt khỏi cuộc sống của các sinh viên.
Dù sao, những việc này cũng đã có cán bộ chuyên trách đảm nhận.
Cố Tư Vũ cho rằng, không can thiệp quá sâu và để mỗi thành viên trong tập thể được tự do phát triển mới là phương pháp giáo dục tốt nhất.
Hiển nhiên, quan điểm của Sa Thụy Kim hoàn toàn khác với cô. Ông là người chủ trương đổi mới, một nhà cải cách dám nghĩ dám làm và có tầm nhìn sâu rộng.
Hai hệ tư tưởng này vốn khó có thể phân định đúng sai, bởi chúng luôn song hành trong tiến trình phát triển của lịch sử, giống như thời kỳ thịnh trị dưới triều đại của Văn Cảnh Đế và Hán Vũ Đế vậy.
Tất nhiên, những bất đồng giữa họ chưa đến mức đối đầu về mặt tư tưởng. Việc so sánh vừa rồi chỉ mang tính chất nói vui nên chúng ta tạm thời không bàn sâu thêm ở đây.
Lý lịch của Cố Tư Vũ nhanh chóng được cập nhật trên trang web của trường.
Dẫu sao cô cũng còn trẻ, chưa đủ từng trải để giữ được tâm lý vững vàng, không bị thành công hay thất bại chi phối cảm xúc. Bởi vậy, cô đã ngồi thừ trong văn phòng cả ngày, liên tục làm mới trang web, thậm chí còn chụp màn hình gửi cho Sa Thụy Kim.
Một hồi lâu sau, Sa Thuỵ Kim mới nhắn lại: “Giỏi quá, Tư Vũ giờ đã trở thành một học giả chân chính rồi.”
Cố Tư Vũ mỉm cười gửi cho ông một dấu chấm hỏi, sau đó nhắn tiếp: “Ý gì vậy, chẳng lẽ trước đây em không phải học giả chân chính à?”
Sa Thụy Kim không hùa theo câu đùa trẻ con của cô mà chỉ nhắn: “Từ giờ phải gọi em là cô giáo Tiểu Cố rồi nhỉ?”
Các đồng nghiệp quả thực vẫn gọi cô bằng danh xưng đó, thế nên cô trả lời: “Đúng vậy, bây giờ đồng nghiệp đều gọi em như thế đấy.”
Hai người trò chuyện vu vơ một lúc, đoạn tin nhắn kết thúc khi Sa Thụy Kim gửi một biểu tượng cảm xúc “bye bye”. Ông không phải là kiểu người không chịu tiếp thu và học hỏi cái mới. Dưới sự tác động của giới trẻ, ông cũng bắt đầu làm quen với một vài trào lưu hiện đại, chẳng hạn như việc sử dụng biểu tượng cảm xúc.
Dĩ nhiên, ông chỉ dùng nó khi trò chuyện với Cố Tư Vũ, mà phần lớn cũng là do cô gửi trước, rồi ông lưu lại để dùng theo.
Trong mắt đồng nghiệp, cô giáo Tiểu Cố mới đến quả thực là một nhân vật chẳng giống ai. Khi mới tiếp xúc, cô cư xử hết sức nghiêm chỉnh, không có gì nổi bật. Trong các buổi tụ tập ăn uống, lời ăn tiếng nói của cô luôn đúng mực, khiến người ta có cảm giác cô chỉ xuất thân từ một gia đình bình thường.
Thế nhưng theo thời gian, một số người bắt đầu nhận ra vài điểm bất hợp lý.
Trong khi các giảng viên cùng đợt đang dốc toàn lực để đăng ký đề tài nghiên cứu, Cố Tư Vũ vẫn bình thản như không. Có người hỏi đến thì cô chỉ đáp: “Tôi định giải quyết cho xong chuyện xuất bản luận án tiến sĩ, rồi mới tính đăng ký đề tài.”
Câu trả lời này càng khiến người ta tò mò và đặt thêm nhiều câu hỏi khác.
Bởi lẽ hai việc kia vốn đâu có gì mâu thuẫn. Khi đăng ký xin phê duyệt dự án, các học giả thường sẽ tự đề xuất đề tài và trình bày ý nghĩa nghiên cứu. Cố Tư Vũ hoàn toàn có thể lấy đề tài trong luận án tiến sĩ của mình làm nội dung dự án để xin tài trợ. Như vậy, cô vừa có thể xuất bản sách, vừa nhận được kinh phí nghiên cứu.
Rất nhiều người vẫn làm như vậy.
Sau một hồi suy ngẫm, Cố Tư Vũ đã từ chối. Cô cảm ơn vị đồng nghiệp tốt bụng rồi nói: “Không sao đâu, đây vốn là đề tài em đã làm trong luận án tiến sĩ. Em muốn xuất bản thành sách chuyên khảo để hoàn tất chỉ tiêu trước, rồi mới tính chuyện đăng ký đề tài sau.”
Khi đó, một vài người tinh ý trong văn phòng đã lờ mờ nhận ra vị đồng nghiệp mới này không phải người túng thiếu tiền bạc.
Tại những đơn vị như trường học của họ, ngoài thời gian giảng dạy cố định thì không có quy định bắt buộc về thời gian chấm công. Thế nhưng, các chỉ tiêu đánh giá của nhà trường luôn là áp lực thường trực. Hơn nữa, trường lại thuộc nhóm dẫn đầu trong bảng xếp hạng ngành học trong nước, nên các giảng viên ganh đua nhau hết sức khốc liệt.
Họ phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ như tổ chức hội thảo, xuất bản sách báo hay đăng ký các đề tài nghiên cứu. Thật sự chẳng có lấy một ngày thảnh thơi.
Thời thế nay đã đổi thay, những tháng ngày nhàn nhã chờ lĩnh lương cố định hằng tháng đã qua rồi.
Cô giáo Tiểu Cố thế mà lại không cuốn vào bầu không khí cạnh tranh ấy, vẫn ung dung làm việc theo tiết tấu của riêng mình, như thể những chính sách và quy định nghiêm ngặt của nhà trường chẳng liên quan gì đến cô.
Hay nói cách khác, cô vốn chẳng bận tâm đến việc có vượt qua được kỳ đánh giá hay không.
Một thời gian sau, cô đăng ký đề tài và được phê duyệt ngay. Trong lúc nhiều đồng nghiệp vẫn đang loay hoay chỉnh sửa hồ sơ mà chưa được thông qua, cô đã trở thành một trong những người đầu tiên nhận được dự án nghiên cứu.
Chuyện như vậy xảy ra rất nhiều lần. Mặc dù phần lớn đồng nghiệp đều thừa nhận năng lực chuyên môn của cô, nhưng vẫn có kẻ lời ra tiếng vào, cho rằng cô được ai đó hậu thuẫn.
Có thể nói, Sa Thụy Kim đã trở thành chỗ dựa vững chắc để Cố Tư Vũ có thể sống một cuộc đời theo ý mình. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ khiến cô mãi mãi không thể ngẩng cao đầu trước ông, như thể khoảng cách địa vị giữa họ chưa bao giờ thực sự biến mất.
So với một người trăm công nghìn việc như Sa Thụy Kim, Cố Tư Vũ rõ ràng thảnh thơi hơn rất nhiều, bởi vậy trước đây thường là cô chủ động bay ra Bắc Kinh.
Thỉnh thoảng, cũng có đôi ba lần, vị lãnh đạo bận rộn lại tranh thủ chút thời gian rảnh hiếm hoi để âm thầm xuất hiện, mang đến cho người đang mải mê tận hưởng cuộc sống nhàn nhã kia vài điều bất ngờ.
Có lần, ông lặng lẽ xuất hiện vào đúng ngày sinh nhật của cô, ăn với cô một bữa cơm đơn giản rồi lập tức trở lại tỉnh lỵ để xử lý công việc.
Khi ấy, ông đã ly hôn, trong tay lại nắm giữ thực quyền, không còn bất kỳ ràng buộc nào nên cách hành xử cũng thoải mái hơn nhiều so với quãng thời gian còn ở Hán Đông hay Bắc Kinh.
Thực ra, ngay từ khi còn ở Bắc Kinh, cách hành xử của ông cũng đã khó có thể gọi là kín tiếng.
Ông không dẫn theo cảnh vệ, cũng không báo trước với bất kỳ ai mà đến thẳng Đại học X, khiến Cố Tư Vũ đang chuẩn bị bài giảng trong văn phòng bị một phen hoảng hốt vì quá đỗi bất ngờ.
Mỗi lần nhớ lại chuyện này, Sa Thụy Kim đều không nhịn được cười. Hôm đó, sau khi gõ cửa văn phòng và nghe thấy tiếng Cố Tư Vũ nói “mời vào”, ông mới đẩy cửa bước vào trong.
Cô đeo kính gọng đen, mắt dán vào màn hình máy tính chỉnh sửa slide thuyết trình. Khi có người tiến vào, cô buột miệng hỏi “có chuyện gì sao?” rồi quay đầu lại. Trông thấy đối phương, biểu cảm kinh ngạc lập tức hiện lên trên khuôn mặt cô, như thể vừa gặp ma.
Vẻ mặt đó hết sức quen thuộc.
Sa Thụy Kim ngẫm nghĩ một lúc rồi cũng nhớ ra. Nhiều năm về trước, trong một lần đến Đại học Chính trị và Pháp luật bàn chuyện công việc, ông từng gõ cửa phòng đọc nơi Cố Tư Vũ đang trực ban. Đó là lần thứ hai ông gặp cô.
Vẻ mặt của cô khi đó giống hệt với bây giờ.
Có đồng nghiệp ở hành lang bắt gặp, về sau người này đã hỏi Cố Tư Vũ rằng ông là ai. Cô ngẫm nghĩ rồi đáp: “Đó là một người chú của tôi, đến trường tìm tôi có việc.”
Khi về nhà xem tin tức, người đồng nghiệp bỗng thấy khuôn mặt người chú của Cố Tư Vũ hao hao giống một nhân vật xuất hiện trên tivi. Nhưng vì chỉ nhìn thoáng qua, hơn nữa chuyện này thật sự quá hoang đường nên người này cũng không suy nghĩ gì thêm.
Cô giáo Tiểu Cố cứ thế ung dung như một kẻ ngoài cuộc, lặng lẽ hoàn thành mọi chỉ tiêu đánh giá của nhà trường trước thời hạn mà không chút vội vàng. Cuối cùng, cô trở thành nhân vật truyền kỳ của cả tổ bộ môn Tôn giáo học.
Cô luôn cư xử hòa nhã, chưa từng xảy ra mâu thuẫn với ai, suốt bao năm cũng không hề vướng vào bất kỳ tin đồn tình cảm nào, mỗi khi được mai mối đều khéo léo từ chối.
May mắn là tại Khoa Triết học, nhất là ngành Tôn giáo học, do ảnh hưởng từ nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau nên việc giảng viên và sinh viên theo đuổi chủ nghĩa độc thân cũng không phải chuyện hiếm.
Cuộc sống vốn dĩ muôn màu muôn vẻ, mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống cho riêng mình.
