Sa Thụy Kim luôn cố gắng không để Cố Tư Vũ dính dáng đến chính trị và ngầm coi đó như một nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ của họ, Cố Tư Vũ cũng cố gắng làm theo.
Trước đây khi hai người sống ở hai nơi, cô còn có thể giữ thái độ dửng dưng trước một số chuyện. Nhưng gần một năm nay, khi sống ngay giữa trung tâm chính trị, một vài tin tức thế nào cũng sẽ truyền tới tai cô. Huống hồ, từ trước đến nay cô vẫn luôn dõi theo sự nghiệp chính trị của Sa Thụy Kim.
Sau khi đến Bắc Kinh, Cố Tư Vũ nhận thấy Sa Thụy Kim thường tan sở sớm hơn so với vài năm trước khi họ còn sống xa nhau. Sau một thời gian dài quan sát và ghi chép, cuối cùng vào một ngày nọ, cô đã hỏi ông: “Chánh văn phòng Sa, có phải chú…”
Cô ngập ngừng một lúc, cảm thấy câu hỏi này có thể sẽ phạm phải điều kiêng kỵ của Sa Thụy Kim.
“Nói đi.” Sa Thụy Kim ngồi ngả lưng ra sau ghế. Họ đang trên đường đến ngoại ô Bắc Kinh nghỉ dưỡng. Nơi đó dẫu xa hoa cách mấy cũng chưa chắc sánh được với Trung Nam Hải, nhưng được ra ngoài nghỉ dưỡng và đón năm mới, xét theo một góc độ nào đó cũng coi như có được mấy ngày thảnh thơi.
Bình thường Sa Thụy Kim hiếm khi đến đây một mình, bởi trong cơ quan đã được trang bị đầy đủ tiện nghi, ông không cần phải ra ngoại ô làm gì.
Ông có lối sống rất kỷ luật, dù công việc bận rộn đến mấy thì mỗi tuần vẫn dành thời gian chạy bộ, chơi bóng rổ cho ra mồ hôi đầm đìa.
Đây là thói quen được rèn luyện từ thời đại học. Thân phận mồ côi đã giúp ông nhận được một số ưu đãi trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá, trở thành một trong những người đầu tiên được vào học tại trường đại học công nông binh.
Ông có được thân phận ấy từ khi còn rất nhỏ. Trong thời chiến, việc sinh tồn vốn đã rất gian nan, ai mà biết được đứa trẻ không cha không mẹ, phải vật lộn để sống sót kia rốt cuộc là con của ai. Ông chỉ biết, bỗng có một ngày mình trở thành đứa con côi cút mà liệt sĩ Sa Chấn Giang để lại.
Cố Tư Vũ liếc nhìn người tài xế rồi hỏi thẳng: “Có phải chú sắp nghỉ hưu rồi không?”
Sa Thụy Kim khẽ cười: “Lại thu thập tư liệu cho cuốn sách của em đấy à?”
Ông cũng không để bụng. Sau cuộc trò chuyện với đồng chí Triều Sinh hồi mấy tháng trước, Sa Thụy Kim đã tháo bỏ được nút thắt trong lòng.
“Em đọc được tin này ở đâu thế? Vượt tường lửa đọc báo lá cải nước ngoài à?”
Cố Tư Vũ lắc đầu, ngập ngừng một lúc mới nói: “Chỉ là em cảm thấy… dạo này thời gian làm việc của chú có vẻ ngắn lại?”
Có một điều mà Cố Tư Vũ không nói ra. Vài năm trước, mỗi lần lãnh đạo tối cao có chuyến công du nước ngoài hay thị sát trong nước, Sa Thuỵ Kim đều tháp tùng. Nhưng một hai năm trở lại đây, nhất là trong năm nay, số lần ông đi cùng đã giảm hẳn.
Những năm qua, ngoài chức vụ Chánh văn phòng Trung ương Đảng, thỉnh thoảng Sa Thụy Kim còn đảm nhiệm vai trò trưởng nhóm của một vài tổ công tác cấp cao, phụ trách các nhiệm vụ cụ thể theo từng giai đoạn.
Vào nửa cuối năm thứ tư trong nhiệm kỳ của ông, các tin đồn về việc “Sa sắp mất ghế” hay “Sa sắp về vườn” bắt đầu được lan truyền. Cố Tư Vũ vốn luôn dõi theo tin tức về Sa Thuỵ Kim, mối quan hệ giữa họ khiến cô trở thành người gần gũi nhất bên cạnh ông, nhưng việc hai người từng sống xa nhau lại giúp cô giữ được một khoảng cách nhất định với vòng xoáy tranh đoạt quyền lực tại thủ đô.
“Em mong tôi về hưu sao?”
Sa Thụy Kim không trả lời mà hỏi ngược lại cô. Ông cười tủm tỉm như thể chỉ đang trò chuyện vu vơ.
“Lời em nói thì có giá trị gì đâu?” Cố Tư Vũ khéo léo lảng tránh vấn đề này. Ở bên Sa Thụy Kim ngần ấy năm, cô đã quá hiểu tính cách của vị lãnh đạo cấp cao này. Do đó với những chủ đề dính dáng đến chính trị, cô tuyệt đối không tuỳ tiện đưa ra ý kiến.
Sa Thuỵ Kim kéo tay cô lại, nhẹ nhàng mân mê chiếc vòng trên cổ tay. Đôi khi Cố Tư Vũ quá nhạy cảm, dễ suy diễn quá mức ý nghĩa trong lời ông nói.
Chẳng hạn như lúc này đây, ông chỉ hỏi vu vơ nhưng Cố Tư Vũ lại xem đó như một lời nhắc nhở mang tính cảnh cáo.
Sự nhạy cảm này nhìn chung lợi nhiều hơn hại, ít nhất cũng rèn cho cô thói quen cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, dù đôi khi chỉ dừng lại ở vẻ bề ngoài.
“Em có thể nói ra suy nghĩ của mình.” Ông lên tiếng khích lệ, “Không cần bận tâm đến những yếu tố thực tế đâu.”
Ý ông là cô không cần nghĩ đến chuyện mưu tính phe phái mà chỉ cần nói lên mong muốn của bản thân. Dù sao thì ý kiến của cô cũng chẳng có giá trị tham khảo hay gây ra được bất kỳ ảnh hưởng nào, vậy nên ông chỉ coi đây như một cuộc tán gẫu giải trí.
Dựa vào thái độ có phần phản cảm của Cố Tư Vũ với chính trị, cũng như sự xót xa và quan tâm khi thấy ông đầu tắt mặt tối, Sa Thụy Kim nghĩ có lẽ cô sẽ mong ông sớm về hưu. Cô từng không ít lần nhắc nhở ông đừng vì công việc mà bỏ lỡ bữa ăn hay quên uống thuốc.
“Vậy thì em mong chú làm thêm vài năm nữa.” Cô trả lời dứt khoát như thể đó là điều hiển nhiên. Thấy Sa Thụy Kim nhìn sang, cô nói tiếp: “Ai chẳng muốn được gắn bó lâu hơn với sự nghiệp mà mình yêu thích…”
Nói đến đây, giọng cô bỗng trở nên ngập ngừng: “Hơn nữa, em cảm thấy… dường như chú vẫn còn lý tưởng… hay mục tiêu gì đó chưa kịp thực hiện?”
Sa Thụy Kim vỗ nhẹ lên mu bàn tay của cô, không nói gì thêm ngoài câu: “Tôi hiểu ý em rồi.”
Câu trả lời mơ hồ của ông có thể xem như một sự ngầm thừa nhận, và Cố Tư Vũ quyết định sẽ hiểu theo cách đó.
Trong thời kỳ Dương Kiến Sơn cầm quyền, Sa Thụy Kim từng được bổ nhiệm làm Ủy viên Bộ Chính trị. Bước sang giai đoạn mới, ông vẫn tiếp tục giữ ghế trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Với tư cách là một phần “di sản chính trị” mà Dương Kiến Sơn để lại, Sa Thụy Kim mang trên mình dấu ấn đậm nét của phe cánh họ Dương.
Năm đó, ông từng được kỳ vọng rất cao khi là gương mặt bất ngờ bứt phá từ kỳ Đại hội đại biểu Toàn quốc khóa trước.
Ban đầu, Sa Thụy Kim không phải người thuộc phe Dương. So với những thuộc h* th*n tín đã gắn bó và ủng hộ Dương Kiến Sơn từ ngày còn công tác tại cơ sở, thời gian làm việc chung giữa Sa Thụy Kim và ông ta tương đối ngắn.
Nhưng đến nhiệm kỳ thứ hai của Dương, Sa Thụy Kim đã nắm bắt cơ hội, tỏ rõ lập trường chính trị và giúp Dương Kiến Sơn thực hiện vài việc trọng đại. Nhờ đó, bộ máy chính trị vốn đang ở thế cân bằng dần thu về một mối dưới tay Dương Kiến Sơn, để rồi trong hai năm cuối của nhiệm kỳ, toàn Đảng chỉ còn nghe theo tiếng nói duy nhất của ông ta.
Có thể nói, Sa Thụy Kim đã tiến vào nhóm hạt nhân quyền lực nhờ vào những công lao to lớn lập được cho phe Dương. Tại một quốc gia rộng lớn, để có thể đứng trên đỉnh cao quyền lực thì phải hội tụ đủ mọi yếu tố từ năng lực, xuất thân cho đến cả vận may.
Sau khi xuống xe, cảnh vệ lập tức theo sát xung quanh. Sa Thụy Kim đã quen với điều này, còn Cố Tư Vũ chỉ có thể gắng gượng thích nghi.
Trước kia cô không nghĩ ngợi gì nhiều, chỉ xem đây như một biểu tượng của quyền lực. Nhưng khi số lần cùng Sa Thụy Kim ra ngoài ngày một nhiều lên, Cố Tư Vũ lại dần nảy sinh một cảm giác kỳ lạ khác.
Cảnh vệ cung kính gọi Sa Thụy Kim là “thủ trưởng”, trên người mang theo súng và rất hiếm khi mở miệng nói chuyện. Khi đến hội trường chuyên biệt, họ nộp lại súng cho lực lượng cảnh vệ tại chỗ phụ trách an ninh và thường xuyên báo cáo vị trí của thủ trưởng về Cục Cảnh vệ.
Nhiều lúc cô rất muốn hỏi, liệu có khi nào ông cảm thấy kiểu “bảo vệ” này giống như một dạng giám sát hay không. Nhưng nhớ đến phạm vi chức trách của ông bao gồm cả quản lý Cục Cảnh vệ, cô lại thôi không hỏi nữa.
Có lẽ những suy nghĩ của cô chỉ là thừa thãi và không cần thiết, nhưng cô không cách nào ngăn được bản thân nảy ra những ý nghĩ như vậy.
Thời điểm thay đổi chức vụ đang đến gần, một số công việc nội bộ của Văn phòng Trung ương Đảng bắt đầu được bàn giao dần cho Phó Chánh văn phòng Thường trực. Sa Thụy Kim chủ yếu tập trung vào công việc thuộc các tổ công tác cấp cao.
Bận thì vẫn rất bận, nhưng không còn ngập trong công việc như trước, khi mà ông trực tiếp đảm nhận vai trò tiếp nhận và truyền đạt thông tin tại bộ phận then chốt nhất trong toàn bộ hệ thống công tác Đảng.
Nhân dịp Tết lần này, sau khi cùng lãnh đạo kết thúc chuyến thị sát ở địa phương, ông đã ghé qua nhà Cố Tư Vũ, cùng cha mẹ cô dùng bữa cơm đơn giản rồi hôm sau hai người trở lại Bắc Kinh.
Năm đầu tiên ông bà Cố còn cảm thấy không thể thích ứng, nhưng nay đã bước sang năm thứ ba nên hẳn cũng đã quen. Sau khi về nhà, Cố Tư Vũ phụ mẹ rửa rau trong bếp, bà Cố bèn hỏi han chuyện tình cảm gần đây của cô và Sa Thuỵ Kim.
Bà Cố dường như đã đoán được phần nào, nhưng vẫn phải dặn dò lại cho chắc: “Tình nết con bướng bỉnh, thường ngày cãi lại bố mẹ thì thôi đi, nhưng đừng có bốc đồng mà kiếm chuyện với thầy Sa đấy.”
Cố Tư Vũ lặng thinh.
“Sống với người ta thì con phải khéo léo, chịu khó nhường nhịn, chịu đựng một chút. Mình là phụ nữ thì phải dịu dàng, biết vun vén…”
“Nếu con bị bắt nạt thì bố mẹ ở nhà cũng chỉ biết xót xa cho con thôi, chứ cũng chẳng làm được gì.” Tiếng dao cắt rau trên thớt vang lên nhịp nhàng.
“Mẹ, mẹ yên tâm đi.” Cô không biết nói gì thêm. Bầu không khí lặng im, gượng gạo bỗng chốc bao trùm lên hai mẹ con.
Cô hiểu mẹ thực ra chỉ đang lo con gái phải chịu thiệt thòi, không muốn cô bị người ta bắt nạt, chỉ là bà không bao giờ biết nói những lời dễ nghe.
Ông Cố ngồi nói chuyện với Sa Thụy Kim trong phòng khách một lúc, rồi lén đi vào bếp.
Ông tiến lại gần Cố Tư Vũ rồi nói: “Tư Vũ, con ra phòng khách nói chuyện với thầy Sa đi.”
Cố Tư Vũ hiểu ngay. Bố mẹ cô đều cảm thấy khó xử khi phải một mình đối diện với “chàng rể” này. Bình thường họ vốn chẳng có dịp tiếp xúc, cuộc sống thì khác biệt một trời một vực, vậy nên ngoài chuyện đồng áng hay tình hình làm ăn của xưởng thì chẳng còn chủ đề nào để nói nữa.
Khi cô đi ra, Sa Thuỵ Kim đang đứng ngắm bức tranh thư pháp “Thiên đạo thù cần*” trong phòng khách. Thấy cô bước tới, ông bèn nói: “Chữ này cũng đẹp đấy.”
(* 天道酬勤: Thiên đạo thù cần, đại ý là ông trời sẽ không phụ những người cần cù, chăm chỉ.)
Cố Tư Vũ khoác tay lên vai ông: “Mua trên mạng chưa đến hai chục tệ, lại còn miễn phí vận chuyển. Nếu chú thích thì để em gửi link cho.”
Ngừng lại vài giây, cô nói tiếp: “Không thì em mua tặng chú cũng được.”
Khi đó Sa Thuỵ Kim đã nở nụ cười rất thoải mái, thậm chí còn buông một câu bông đùa rằng như mình thì cần gì phấn đấu nữa, còn Cố Tư Vũ vẫn đang độ xuân xanh, tiền đồ rộng mở mới phải ra sức nỗ lực.
Cố Tư Vũ thầm nghĩ: Ông nói “như mình” nghĩa là sao? Ông đang muốn ám chỉ tuổi tác hay địa vị?
Cô đáp lời: “Chánh văn phòng Sa à, chú xa rời quần chúng quá rồi đấy. Chú có biết giới trẻ bây giờ khổ sở thế nào không? Chỉ riêng năm nay thôi đã có mấy chục người chết vì lao lực rồi đấy, toàn thanh niên tráng kiện thôi, thế mà chú còn bảo em phải ra sức nỗ lực…”
