Ngục tối bên Quán Lưu Hồ vốn chỉ giam giữ những tướng sĩ cần qua hai vòng hội thẩm. Phàm kẻ đã chịu xử phạt theo quân lệnh thì không cần xét lại, thường ngày tuyệt chẳng bị giam ở chốn này.
Vậy mà Lận Thử lại thành kẻ đầu tiên phá lệ từ trước đến nay.
Hai mươi quân trượng giáng thân vốn chẳng là gì, người hạ thủ là Tiết Đình, tay biết nặng nhẹ, đánh đến da thịt toạc ra, song gân cốt vẫn nguyên vẹn, chưa hề tổn hại.
Chỉ là bị giam nơi này chẳng khác nào ngồi tù. Lận Thử kêu gào mấy ngày liền xin gặp Lận Tắc, song không một ai đoái hoài. Chỉ có Hoài Ân đến hai lượt, thắp hương cho y, tụng kinh bên tai, nói là giúp tĩnh tâm.
Trong lòng y thầm nghĩ, dẫu là huynh đệ ruột thịt rốt cuộc cũng là hai người. Huynh trưởng ưa Phật lý, đâu có nghĩa y cũng thích chốn này. Nhưng có lẽ vì ngày dài lê thê trong ngục, Hoài Ân thong dong lần tràng hạt, tiếng mõ đều đều, y lắng nghe nửa ngày, đến khi trời tối khi Hoài Ân rời đi, trong tâm quả nhiên lắng lại đôi phần.
Tâm đã tịnh, nghĩ lại trước sau, y vẫn chẳng thấy mình có lỗi. Huynh trưởng xưa nay chưa từng đối đãi với y như vậy: đánh thì đánh, lại còn giam y ngày đêm không dứt nơi này.
Chỉ là ngày tháng trôi qua, ưu lo dần lấn át phẫn nộ.
Huynh trưởng xử sự xưa nay quyết đoán, chưa từng dây dưa. Dẫu việc của y cần cùng các tướng bàn bạc cũng không đến mức gần một tháng chưa dứt, huống chi lỗi này đâu phải chuyện lớn.
Nghĩ đến đây, sau lưng Lận Thử chợt lạnh toát mồ hôi.
Nhớ lại ngày tranh cãi, chẳng lẽ bệnh của huynh trưởng nặng thêm, mọi người đều giấu y? Nhưng nếu huynh trưởng bệnh nặng, cớ sao phải giấu? Đầu năm ngoái phát bệnh ở Ký Châu, còn giao cho y trấn giữ trong phủ... Hay là bị Trưởng Công chúa khống chế? Nàng khống chế huynh trưởng, lại cùng đệ đệ ruột thân là hoàng đế trong ngoài hô ứng!
Nghĩ tới đó, Lận Thử lập tức lại gào thét, đập cửa ngục, yêu cầu thả y ra.
"Xem ra huynh trưởng phạt chàng còn nhẹ, vẫn còn sức như thế!" Giữa tháng Tư, cuối cùng sau lưng Hoài Ân đã có người thứ hai xuất hiện trong ngục tối.
"A Kiều—" Lận Thử vừa mừng vừa sợ, song lập tức chuyển sang bi thương, "Nàng từ Ký Châu vội vã đến đây chẳng lẽ huynh trưởng và Đông Cốc quân thật sự gặp biến rồi? Có phải Trưởng Công chúa thừa cơ đoạt lấy hồ sơ, bản đồ, tình hình quân vụ? Mau mở cửa, thả ta ra! Ta đã nói rồi, không thể dung chứa phụ nhân ấy ở bên huynh trưởng!"
Mông Kiều đứng ngoài cửa ngục, kéo tay viên thủ vệ đang định tiến lên mở khóa, lặng lẽ nhìn trượng phu trong ngục.
"Sao nàng lại cản hắn mở cửa? Mau bảo hắn mở ra!" Lận Thử không dám lớn tiếng với thê tử, liền quay sang quát thủ vệ, "Còn đứng đó làm gì, mau lên!"
Mông Kiều không nói, thủ vệ cũng chẳng dám nhúc nhích.
Bốn phía trong ngục đều là tường đá, chỉ có ánh nến trên vách và đuốc trong chậu chiếu sáng, bóng người lay động, gương mặt khi sáng khi tối. Song Mông Kiều đứng yên nơi đó, tấm lưng thẳng như bút, dáng người tựa hạc, đến mức dường như áp chế cả ánh lửa bốn bề, lớp bụi trong hư không cũng ngừng trôi, trong ngoài ngục chỉ còn lại tiếng hít thở khe khẽ, tĩnh lặng đến nghẹt người.
Lận Thử rốt cuộc cũng yên lặng, cúi đầu rủ mắt. Dẫu đã là một thanh niên râu ria rậm rạp vì nhiều ngày không sửa sang mà thêm vẻ phong sương, song trong khoảnh khắc này, khi đầu y cúi sâu, tựa như từng lớp giáp trụ rơi rụng, sát khí tan đi, chỉ còn lại nét sợ sệt bối rối nơi chân mày, hệt như một thiếu niên mới rời mái nhà.
Thiếu niên phạm lỗi chưa hẳn biết mình sai ở đâu, nhưng trước mặt một người vẫn nguyện không hỏi nguyên do mà cúi đầu trước.
Không biết đã qua bao lâu, tim đèn trên vách bỗng nổ lách tách, phá tan sự im lặng. Mông Kiều rốt cuộc cũng giơ tay, ra hiệu cho thủ vệ mở cửa.
Qua hơn một tháng, cánh cửa này cuối cùng cũng mở ra. Thế nhưng thanh niên từng nóng lòng thoát khỏi ngục tối lại không lao ra nữa, chỉ lặng lẽ đứng đó. Đợi thủ vệ rời đi, Mông Kiều bước vào, từng bước đến gần, khi thân ảnh che khuất tầm nhìn của y, y mới chậm rãi lùi về sâu trong ngục.
Đến khi Mông Kiều đứng yên, y cũng dừng lại.
"Năm đó, khi Điện hạ gặp thích khách tại chùa Bạch Mã, chàng chậm trễ đến cứu viện, huynh trưởng chàng đã phạt chàng một lần. Còn nhớ khi ta bôi thuốc chữa thương cho chàng đã nói điều gì không?"
Chuyện đã sáu bảy năm trước, hồi tưởng thật xa. Lận Thử nghĩ một lúc mới đáp: "Trong Mông thị, phàm ai khuyên can ta, bất luận là ai hay việc gì, ngoài nàng ra, ta đều không được nghe."
"Hóa ra chàng vẫn còn nhớ."
"Lời A Kiều nói ta chưa từng dám quên." Lận Thử ngẩng đầu nói, "Lần này quả thật là nhị ca cầu khẩn ta, chỉ là cho mấy vị tộc đệ một cơ hội lập công, vốn chẳng phải việc lớn. Họ là thân tộc của nàng, chẳng lẽ nàng không mong họ có tiền đồ? Nàng không tranh, là không muốn ta khó xử, nhưng nàng không tranh, ắt có kẻ khác tranh. Nàng đâu biết kẻ tên Thừa Minh kia chính là biểu huynh ruột của Trưởng Công chúa, nàng ta giám sát thủy lợi Chương hà ở Ký Châu, đã chia bớt quyền xử lý chính vụ, lại được không ít lòng người và uy vọng. Nay còn điều thêm một biểu huynh khác nhúng tay vào quân vụ. Huynh trưởng đang ở trong cục, nhất thời mê mẩn, sao ta có thể khoanh tay đứng nhìn!"
Mông Kiều gật đầu: "Ta hiểu lời chàng. Thứ nhất, việc lần này quả thực do Mông Lãng chủ trì tiến cử người cho chàng. Thứ hai, chàng suy nghĩ là vì ta, vì tộc nhân của ta mà mưu lợi. Thứ ba, chàng lo cho huynh trưởng từ tận đáy lòng, tâm ý đó thật tốt."
Lận Thử liên tiếp gật đầu.
Mông Kiều đưa tay đặt trước ngực y: "Tâm đã tĩnh chưa?"
Lận Thử gật đầu.
"Đầu óc còn tỉnh táo chứ?"
Lận Thử khẽ "ừ" một tiếng.
"Vậy thì nghe cho kỹ." Mông Kiều nghiêm mặt nói, "Một, ta nhắc lại lần nữa: trong Mông thị, phàm ai khuyên can chàng, bất luận là ai hay việc gì, ngoài ta ra, đều không được nghe. Hai, ta không cần chàng vì tộc nhân của ta mà lo nghĩ nhiều, ta không mong họ lập được công danh, chỉ mong họ bình an phú quý. Ba, huynh trưởng của chàng không yếu kém như chàng tưởng, sẽ không dễ bị một phụ nhân mê hoặc. Xin chàng đừng can dự chuyện vợ chồng của họ, càng chớ nảy sinh ý niệm làm tổn hại đến Điện hạ."
Lời Mông Kiều từng chữ dứt khoát rền vang, ý tứ thẳng thắn không vòng vo, vậy mà Lận Thử hồi lâu vẫn không đáp.
"Muốn ta nói lại một lần nữa?" Giọng nàng trầm ấm, không hề nghe ra sự giận dữ.
Lận Thử lắc đầu, lại nhìn nàng một lúc: "Ta chợt nghĩ đến huynh trưởng. Đột nhiên thấy cách hành sự của nàng và huynh ấy có phần giống nhau, khi dạy bảo ta cũng liệt kê một, hai, ba, bốn như thế."
Thuở thiếu niên khi mến mộ, nàng từng học theo bút tích của huynh ấy, luyện thương pháp của huynh ấy, tỉ mỉ quan sát từng cử chỉ hành động, khắc sâu trong lòng. Thời gian lâu dần, không ngờ ngay cả cách tư duy cũng nhiễm vài phần tương đồng.
Nhưng Mông Kiều chẳng thấy có gì không ổn. Nàng từng yêu một người, chọn lấy sở trường của người ấy mà học, khiến bản thân trở nên tốt hơn — đó là may mắn và cũng là năng lực của nàng.
Vì thế, đôi mắt trầm tĩnh kia chỉ gợn lên một tầng sóng rất khẽ, rồi lập tức trở lại bình hòa: "Vậy thì cả hai chúng ta đều đã nói rõ ràng minh bạch như thế, chàng còn hồ đồ nữa sao?"
"Ta chỉ là lo cho đại nghiệp Nam phạt, sợ có kẻ ngấm ngầm cản trở. Mối nhân duyên của a huynh vốn do mẫu thân giấu huynh ấy mà định đoạt, người nghênh đón nàng ta về cũng là ta." Lận Thử hạ giọng nói.
"Nếu chỉ vì lẽ ấy, thì lại càng không cần lo. A huynh chàng quyết chẳng dung tha kẻ mang bụng dạ khác thường ở bên cạnh, lại để người ấy sinh con dưỡng cái cho mình. Huynh ấy đâu phải Hạ Kiệt, Thương Trụ, sẽ vì sắc đẹp mà say đắm. Mà Điện hạ cũng chẳng phải Muội Hỉ, Đát Kỷ, để thành họa thủy lỡ dở nghiệp lớn."
Lận Thử nhìn Mông Kiều, lặng một lát rồi nói: "Ta không phải không tin a huynh, chỉ là lần này, chủ yếu bởi thân phận của Thừa Minh, nên ta mới sinh lòng nghi ngại. Những việc khác, ta đều nghe theo nàng và a huynh. Nhưng chuyện này liên quan đến Đông Cốc quân, ta nhất định phải tra xét. Trái lại là nàng, vì sao nàng lại tin rằng a huynh tuyệt đối không nhìn lầm người?"
"Ta đã đi gặp a huynh rồi. Huynh ấy đã kể ta nghe chuyện của Thừa Minh. Năm đó, y quan trong cung từng âm mưu hạ độc a huynh, kẻ chủ mưu là Hà Dực cùng đứa con trai thứ năm của hắn. Sau khi sự việc bại lộ, họ đẩy Hà Chiêu ra làm kẻ thế mạng. A huynh cứu Hà Chiêu, một là vì Hà Chiêu có tài, hai là để kéo gần Giang lệnh quân." Mông Kiều thấy thần sắc của y không còn cố chấp như trước, đã có phần dịu lại, liền dìu y ngồi xuống, chậm rãi giải thích, "Chàng thử nghĩ hành động của Thừa Minh lần này mà xem, suýt nữa đã bỏ mạng ở thành Quảng Đô, nào có gian tế nào liều mình đến vậy? Hắn hoàn toàn có thể đợi đại quân công thành, trong ngoài tiếp ứng, cớ sao phải tự thân mạo hiểm? Suy cho cùng, chẳng phải cũng vì muốn công thành thuận lợi, giảm bớt thương vong sao? Mục đích ấy nào có khác gì a huynh."
"Nghe nàng nói cũng có lý. Vậy vì sao hôm ấy a huynh không giải thích? Nếu huynh ấy chịu nói rõ, ta cũng chẳng đến mức..." Lận Thử lẩm bẩm rồi tự khép miệng.
Y đã mắng a huynh bị sắc đẹp mê hoặc, e rằng huynh ấy thực sự bị y làm cho tức giận.
"Vậy a huynh đã thả ta ra chưa? Ta sẽ đi xin lỗi huynh ấy." Lận Thử liếc mắt nhìn người đang giúp y tịnh diện cạo râu, "Sao ta cứ cảm thấy nàng đặc biệt tin tưởng a huynh? Đối đãi với huynh ấy thì dĩ nhiên không thể bằng đối đãi với ta, nhưng mà..."
Lận Thử quay đầu lại: "Có phải nàng thích —"
Bàn tay của Mông Kiều khựng lại, lưỡi dao trong tay đẩy mặt y lệch sang một chút, mũi dao hạ xuống hai tấc, rồi đổi tay, lấy sống dao áp nhẹ nơi cổ y: "Ăn nói cho đàng hoàng."
"Ta cảm nhận được, nàng dùng sống dao." Lận Thử cúi đầu, giọng đầy đắc ý, "Ta nói bừa thôi, a tỷ chớ giận."
"Còn dám gọi bừa." Mông Kiều dùng cán dao gõ lên đầu y, cúi mắt tĩnh tâm cạo râu, song gương mặt lại nóng bừng hết đợt này đến đợt khác.
"Ta tha cho chàng thêm lần này nữa. Nhưng sự không quá ba; nếu còn lần sau, chàng vẫn không đem lời ta nói để trong lòng, ta liền bỏ chàng!"
Ngục tối trống trải, lời của phụ nhân vang vọng hồi lâu chưa dứt.
*
Sau việc này, Mông Kiều vốn định để Lận Thử trở về Ký Châu trấn giữ hậu phương, còn nàng lưu lại Quán Lưu Hồ, hai bên đổi chỗ cho nhau. Song Lận Thử nghĩ thân thể Lận Tắc vốn không tốt, nếu mình rời đi, công việc ắt sẽ dồn cả lên vai Mông Kiều. Vì thế y đề nghị tự về Lạc Dương trấn giữ đại bản doanh ở Đài Thành, một là tĩnh tâm sám hối, hai là có thể điều Phương Hạc trở về trợ giúp.
Kế ấy rất hay. Mông Kiều ở lại Quán Lưu Hồ, ngày sau công lao Nam phạt tự nhiên có thể tính cho Mông thị. Còn Mông Hoán, Mông Huyên vốn đã bị giáng đi Đài Thành, nay Lận Thử cùng đến, cũng coi như hoạn nạn có nhau, lại có thể che chở lẫn nhau, như vậy Mông thị cũng khó lòng nhiều lời.
Bởi thế, đầu tháng Năm, khi thương thế của Lận Thử đã lành, y từ biệt huynh trưởng và thê tử, lên đường về Lạc Dương.
Giữa tháng Năm, Phương Hạc tới Quán Lưu Hồ, nhậm chức Phó đô đốc, đồng thời mang theo mật báo: đã có manh mối nơi Thái úy Hà Tuân luyện binh.
Đầu tháng Sáu, Ích Châu gửi thư, báo Thừa Minh đã bình phục, có thể chuẩn bị chiến sự công Kinh phạt Dương.
Mọi việc đều tiến hành theo kế hoạch, thậm chí còn nhanh hơn dự liệu. Chỉ có một điều vượt ngoài trù liệu của mọi người, đó là thân thể của Lận Tắc. Từ ngày tranh cãi với Lận Thử rồi hôn mê, bệnh của hắn lại tái phát, thêm hai tháng liền triền miên trên giường.
Đây là lần đầu tiên kể từ khi phát bệnh, ngoài mùa đông, hắn còn phát tác vào tiết khác. Việc này khiến các y quan lo sợ, bởi quy luật phát bệnh đã bị phá vỡ, e rằng sau này tùy thời phát tác, hao tổn thân thể mà không kịp bồi dưỡng nguyên khí, khiến thọ số vốn chỉ mười năm lại càng ngắn hơn.
Hôm ấy, Đổng Chân sau khi bắt mạch bình an cho Tùy Đường xong liền ở lại Cam Viên cùng nàng biện thảo dược, nhàn đàm việc nhà.
"Hôm nay trang dung của cô có gì khác sao?" Tùy Đường ngửi một nhánh dược thảo, mỉm cười nói, "Sao ngươi cứ nhìn cô mãi?"
Đổng Chân là một trong số ít người biết rõ thọ số của Lận Tắc, không kìm được mà hạ giọng: "Thần thấy Điện hạ hành sự như thường, không lộ nửa phần ưu sắc. Tiểu công tử còn nhỏ như vậy, bệnh của Lận tướng lại nặng... người—"
"Ngươi thấy cô quá mức an tâm ư?" Tùy Đường đổi sang một nhánh thảo dược khác, phác họa hình dáng, ghi chép dược tính. "Cô chỉ cảm thấy lo lắng cũng vô ích, hơn nữa lo quá sinh sầu, uất khí bế tắc nơi tâm, đến thân mình cũng chịu không nổi, chẳng đáng. Có công phu ấy, chi bằng cô đọc thêm y thư, tìm thêm thảo dược, xem có thể chữa khỏi bệnh của hắn hay không."
Bệnh của hắn theo cách nói của tiền thế vốn cũng chẳng hẳn là bệnh, mà là mệnh.
Nhưng Tùy Đường không tin mệnh, phàm việc trên đời, đều do người làm.
"Về y dược, thần sẽ cùng Điện hạ tận lực. Chỉ là thần nhớ ngày ấy Lận tướng cùng Điện hạ hòa ly, vốn vì thời cục bức bách, lại bởi Phạm thị mà liên lụy đến người." Đổng Chân nhìn quanh bốn phía, "Điện hạ không sợ sao?"
Tùy Đường ngước mắt nhìn nàng.
"Thần không có ý gì khác, chỉ là đôi khi đêm khuya nghĩ đến Điện hạ, luôn cảm thấy con đường phía trước của người dài mà gập ghềnh. Nhưng mỗi lần gặp người lại chẳng thấy người mang nửa phần ưu hoạn, nên thần hiếu kỳ."
Tùy Đường ghi chép xong, đặt bút xuống rồi mới nói: "Quả thực cô không sợ, bởi đã có người sợ thay rồi. Nếu họ không sợ, đã chẳng vội vàng tranh đoạt quân công, gây ra chuyện như Lận Thử hồi tháng Ba. Điều đó đủ thấy nước cờ Lận tướng an bài cho Thừa Minh rất hay. Văn có Giang lệnh quân, võ có Thừa Minh làm thầy, tự nhiên cô cũng chẳng sợ."
Có một điều, nàng không nói ra.
Ấy là trong lòng nàng, so với tiền thế, hiện tại đã tốt hơn rất nhiều.
Nàng còn sống, còn năng lực yêu thương, còn giá trị được người khác cần đến, có phu, có tử... Còn hắn cũng chẳng như khi xưa, vội vàng rời đi không lưu lại lấy nửa ngày, để người ở lại ôm hận suốt đời. Hắn cho nàng rất nhiều thời gian, nhiều đến mức nàng có thể cố gắng trưởng thành, trưởng thành đến khi quay lại chăm sóc, che chở cho hắn.
Trong đêm tối mịt mùng, khi phát bệnh, hắn từng nói: "E rằng không thể bầu bạn cùng nàng đến bạc đầu..."
Đời người khó được viên mãn, nào có chuyện tốt đẹp đều để một mình nàng chiếm trọn.
Nàng tựa trong vòng tay hắn, bị mùi thuốc nồng nặc bao bọc, mà lời nói vẫn trong trẻo vang vang: "Kiếp trước, nếu Phái Nhi còn sống, thọ số của chàng có dài thêm không?"
"Sẽ dài hơn. Có nó ở đó, ta tất phải gánh lấy trách nhiệm làm cha, nếu không cũng chẳng dám đi gặp nàng."
"Cũng vậy." Nàng càng lúc càng nép chặt, "Nếu không thể cùng nhau đến già, ta cũng sẽ sống trọn đời này. Ngày sau, ta sẽ kể cho chàng nghe trên vạn dặm sơn hà chàng từng chinh phạt, hoa nở đỏ rực đến nhường nào, cây mọc cao đến đâu; kể về Phái Nhi của chúng ta tốt đẹp ra sao; kể về cuộc đời được nâng đỡ mà ta có nhờ chàng, về sau đã nhìn thấy bao phồn hoa, thú vị biết bao. Ta kể cho chàng nghe, cũng là như nhau!"
"Điện hạ!" Đổng Chân thấy vành mắt nàng ửng đỏ, hồi lâu chẳng nói lời nào, không khỏi hạ giọng gọi khẽ.
"Vả lại chẳng bao lâu nữa, cô còn sẽ có thêm một trợ lực." Tùy Đường hoàn hồn, nhìn Đổng Chân, ghé giọng nói nhỏ, "Mà còn có liên quan đến ngươi."
"Liên quan đến thần ư?"
Tùy Đường đứng dậy trở vào phòng, mang ra một phương thuốc, lại đem hai thẻ trúc vừa ghi chép khi nãy trao cho nàng ấy.
Đổng Chân đọc qua, đến khi cầm lấy thẻ trúc, sắc mặt đã đại biến, vừa kinh vừa hỷ: "Cái này... là do Điện hạ phối ra sao? Thần lập tức đem cho ân sư xem. Có phương thuốc này, tam quân có thể tùy thời xuất phát, chẳng còn lo sợ trùng độc nơi Nam địa..."
"Điện hạ quả thực cao minh! Sau này toàn bộ y thự ắt chỉ một mực theo Điện hạ!" Đổng Chân xoay người ra ngoài, qua bậu cửa vẫn còn kích động, vội vàng chạy đi tìm Lâm Quần, suýt nữa đâm sầm vào Lận Tắc vừa tan trực trở về.
"Lận tướng thứ tội, xin để Điện hạ tự nói với ngài tin vui..."
"Nàng ấy vì chuyện gì mà hưng phấn đến vậy?" Lận Tắc bước vào phòng. Nay cứ cách ba ngày hắn lại đến đại trướng Quán Lưu Hồ một lần, nửa ngày liền quay về.
Tùy Đường đứng dậy, khoác tay hắn ngồi xuống bên cửa sổ, vừa bảo Lan Tâm đi bế Phái Nhi: "Ta đã chỉnh lý xong phương thuốc trị trùng độc Nam địa, đưa cho nàng ấy rồi."
"Không khiêm tốn chứ?" Lận Tắc quan sát nàng.
Phương thuốc ấy vốn là đời trước Lâm Quần dựa trên nền tảng của Tùy Đường mà hoàn thiện thành một dược phương đầy đủ, hữu hiệu, công lao lẽ ra nên chia đôi.
Tùy Đường lắc đầu: "Tam lang giấu bấy lâu không đưa cho y thự, chẳng phải là để thiếp hái lấy trái này sao?"
"Y thự về sau cũng giao cho nàng."
Khống chế y thự, khiến các y quan kính phục tâm phục, sinh ra một tiếng nói chung; mai này bệnh tình của hắn ra sao, người biết đầu tiên ắt chỉ có nàng.
Lận Tắc thấy Phái Nhi được bế đến thì dang tay ôm lấy, trong mắt đầy vẻ lưu luyến. Phu thê hai người đã bàn bạc, đợi qua mùa hè này, tiết trời mát mẻ hơn, sẽ để Tùy Đường đưa Phái Nhi về phủ Thừa tướng Ích Châu.
Dẫu sao nơi đây ở tuyến đầu Nam phạt, tùy thời có thể gặp ám sát từ Nam địa, lại cách Lạc Dương về phía tây chỉ ba trăm dặm. Theo đà Nam phạt càng lúc càng gấp, tin thắng trận liên tiếp, khó bảo hoàng đế sẽ chó cùng rứt giậu, lại mưu toan hành thích.
Tuy Đông Cốc quân đủ người bảo hộ Tùy Đường và Phái Nhi, song họ ở đây vẫn khiến Lận Tắc phải phân tâm, lại thêm thuốc men, ẩm thực nơi này chưa đủ đầy, Phái Nhi còn trong tã lót, chẳng có lợi cho sinh trưởng.
...
"Đã hẹn rồi, cuối thu sang đông, chàng nhất định phải trở về tĩnh dưỡng." Lá phong xào xạc, ráng chiều nhuộm đỏ trời tây, Tùy Đường bế con đứng nơi quan đạo ngoại thành tiễn biệt Lận Tắc.
"Nàng không nói ta cũng sẽ quay về. Ta chỉ hận không thể lúc này theo nàng và con cùng đi." Lận Tắc hôn lên bàn tay nhỏ của Phái Nhi, lại véo nhẹ má Tùy Đường, "Đợi ta về, hẳn nó đã biết nói rồi."
Gần đây Lận Tắc có phần không ưa Phái Nhi, lúc này còn liếc nó một cái. Những ngày sắp sửa chia tay, Phái Nhi ê a phát ra chút âm thanh, liền cướp mất a mẫu của hắn.
Vốn cũng chẳng ai hiểu nó nói gì, chỉ chừng như mẫu tử liên tâm, Tùy Đường bảo là nó đòi a mẫu.
Đòi a mẫu.
Đòi a mẫu.
Liên tiếp bảy tám ngày. Nếu không phải hôm qua nó biết điều, thả a mẫu về phòng, e rằng Lận Tắc còn phải tranh giành với nó thêm mấy phen.
"Bây giờ nó đã nói được rồi." Tùy Đường trêu Phái Nhi, gọi một tiếng: "Phụ thân."
Lận Tắc lười để ý nàng: "Đừng dỗ ta nữa, mau lên xe đi."
"Mau gọi đi."
"Phụ... Phụ thân." Đứa trẻ theo dẫn dắt của mẫu thân, vậy mà rõ ràng, trọn vẹn thốt ra hai chữ.
Lận Tắc sững người tại chỗ. Đến khi hoàn hồn, mẹ con hai người đã vào trong xe ngựa.
Tùy Đường dịu dàng, ngoảnh lại mỉm cười với hắn: "Ly biệt thật khổ. Ta và Phái Nhi còn có nhau, lại để nó gọi chàng đầu tiên, coi như an ủi nỗi tương tư của chàng."
