Thành thật mà nói, khoảng thời gian ở nước ngoài tương đối thảnh thơi.
Trong vai trò học giả thỉnh giảng, tôi gần như chẳng có việc gì phải làm. Sau khi liên hệ trước với một vị giáo sư, ông đã gửi tôi thông tin liên lạc của trợ lý nghiên cứu, dặn rằng nếu có chuyện gì thì cứ hỏi người trợ lý đó.
Tôi đã xin thời khóa biểu các môn chuyên ngành trong học kỳ này, quyết định sẽ đi nghe thêm vài buổi để cảm nhận xu hướng nghiên cứu ở những khu vực khác nhau.
Nói chung, trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo, Mỹ mạnh về xã hội học tôn giáo và lý thuyết tôn giáo, châu Âu mạnh về nghiên cứu Cơ Đốc giáo, còn ở Trung Quốc, do hệ thống ngành học khởi đầu muộn nên không có thế mạnh về lý thuyết, nhưng nhờ nền cổ học phát triển mà lại nổi trội trong nghiên cứu văn hiến và các vấn đề lịch sử.
Một trưa nọ, sau khi tan học, tôi hớt hải chạy đến buổi tọa đàm diễn ra vào đầu giờ chiều. Thời gian quá gấp, tôi bèn băng qua bãi cỏ trước giảng đường, vừa đi vừa gặm bánh mì.
Trong thoáng chốc, tôi có cảm giác như mình đã quay về một khoảnh khắc nào đó trong quá khứ, rảo bước giữa khuôn viên trường đại học.
Chỉ là thời cuộc đổi thay, dòng đời đã xô đẩy tôi đến nơi này. Giữa khuôn viên một trường đại học nơi đất khách quê người, giữa những thanh âm xa lạ, tôi lặng lẽ mà tự do hòa mình giữa dòng người.
Sau khi tôi ra nước ngoài, Sa Thụy Kim lại chuyển cho tôi một khoản tiền lớn. Đến khi tôi phát hiện thì cũng đã mấy ngày trôi qua. Đây đúng là tác phong làm việc điển hình của Sa Thụy Kim: chỉ làm, không giải thích.
Tôi gửi cho ông một dấu hỏi chấm. Mãi sau mới thấy ông nhắn lại: “Ở bên ngoài phải tự biết chăm sóc mình.”
Tôi trả lời: “Vâng ạ.”
Mấy phút sau, tôi bổ sung thêm một câu: “Chú cũng vậy nhé, ở Bắc Kinh nhớ giữ gìn sức khỏe.”
Lần này ông trả lời rất nhanh: “Tôi biết rồi.”
Với tôi mà nói, lần ra nước ngoài này thật sự là một cơ hội quý giá. Ngày trước, tôi chỉ được đào tạo trong nước nên luận án tiến sĩ cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt từ môi trường tại đây, mạnh về khảo chứng và tư liệu lịch sử, nhưng lại thiếu chiều sâu về mặt lý luận.
Chỉ nói lý thuyết suông mà không tiếp xúc với tài liệu thực tiễn và tư liệu lịch sử thì rất dễ đi lệch hướng, bóp méo sự thật để phù hợp với lý thuyết, hoặc nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện. Đây là căn bệnh chung của không ít nhà nghiên cứu trong nước.
Lý luận thực chất chỉ là công cụ được tạo ra để phân tích thực tiễn cụ thể. Tôi cảm thấy may mắn vì mình đã có gần mười năm làm quen và tích lũy tư liệu, nhờ vậy mà giờ đây tiếp cận các lý thuyết phương Tây cũng thuận lợi hơn rất nhiều.
Mấy tháng gần đây, công việc chính của tôi là chỉnh sửa lại luận án tiến sĩ, điều chỉnh bố cục, bổ sung những nhận định mới rút ra trong thời gian làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ và những lý luận học được trong giai đoạn này.
Khi học kỳ kết thúc, tôi tranh thủ thời gian trường cho nghỉ để bay về thăm nhà. Bố mẹ vui mừng ra mặt.
Hai người chỉ có đứa con duy nhất là tôi. Ngày còn trẻ họ không mấy quan tâm đến tôi, nhưng khi về già lại trở nên tình cảm hơn rất nhiều.
Bố tôi vẫn là người khô khan và cục mịch, nhưng tôi có thể cảm nhận được sự bối rối của ông lúc ra ga đón tôi, cũng như khi hỏi tôi chừng nào quay về trường. Còn mẹ thì nắm chặt tay tôi, liên tục than gầy quá rồi hỏi có phải ở nước ngoài ăn uống kham khổ lắm không.
Nghe thấy lời này, bố quay sang lườm tôi, hừ lạnh một tiếng rồi hỏi: “Muốn giảm cân với làm đẹp nên không thiết sống nữa à?”
Tôi bĩu môi, nói đồ ăn ở nước ngoài dở chết đi được.
Sau một tháng nằm dài ở nhà, tôi đưa bố mẹ đi du lịch. Hai người ngoài mặt thì chê tôi hoang phí, nhưng lại đăng ảnh khoe khắp mạng xã hội.
Cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng, điều này quả nhiên là chân lý.
Tôi có thể cảm nhận được bố mẹ vẫn canh cánh chuyện tôi chưa có người yêu, nhưng đang ăn tiêu bằng tiền của tôi nên hai người cũng không tiện nói ra miệng. Ít nhất trong nửa tháng đi chơi ấy, bố mẹ không nói gì cả, chỉ hay than thở mong tôi sớm trở về và ổn định cuộc sống.
Tôi cười híp mắt, dúi vào tay mỗi người một phần quà vặt đặc sản mới mua rồi đáp gọn: “Con sắp về rồi, sắp rồi mà.”
Không bị ai quấy rầy, có một số tiền tiêu cả đời không hết và được làm những việc mình yêu thích, cảm giác ấy mới hạnh phúc làm sao.
Cuộc sống ở Bắc Kinh đôi khi khiến tôi thấy không thoải mái, nhưng nếu không có một năm sống tự do ở nước ngoài để so sánh thì có lẽ tôi cũng sẽ không cảm nhận được điều này một cách rõ ràng và mãnh liệt đến vậy.
Đúng là sống quá lâu trong lồng son, nay mới được trở về là chính mình.
Tôi và Sa Thụy Kim vẫn chưa cắt đứt liên lạc hoàn toàn, thỉnh thoảng vẫn trò chuyện đôi câu trên mạng.
Lúc này tôi mới hiểu rằng ông cho tôi ra nước ngoài không phải vì chán tôi, mà là do có những tính toán sâu xa khác. Tuy nhiên, tôi chưa từng hỏi về tình hình ở thủ đô, ông cũng không đề cập đến nửa lời.
Một đêm nọ, tôi đeo tai nghe chống ồn nghe nhạc, vừa đắp mặt nạ vừa ngân nga trước gương, miệng thì hát nhưng đầu óc lại đang phân vân không biết ngày mai nên đến thư viện ôn bài hay bắt xe đến một quán ăn nhỏ cách đây mười lăm cây số. Quán ăn này đang nổi như cồn trên mạng, nghe nói rất có nét riêng.
Điện thoại đang cắm sạc ở đầu giường. Khi chuông báo cuộc gọi reo lần đầu, tôi không nghe thấy. Đến khi phát hiện thì đã nửa tiếng trôi qua.
Là số máy của Sa Thụy Kim.
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi gọi lại.
Sau khi cuộc gọi được kết nối, ông hỏi tôi vì sao vừa rồi không nghe máy. Tôi nằm sấp trên giường, giải thích rằng ban nãy mải đắp mặt nạ và nghe nhạc nên không nghe thấy tiếng chuông. Ông bật cười, khen tôi biết cách tận hưởng cuộc sống.
Tôi hỏi có chuyện gì không, nhưng ông lại nói không có gì cả.
Tối hôm đó, tôi cảm nhận được ông có chút khác thường, chỉ có điều chẳng thế nói rõ là khác ở đâu.
Chúng tôi tán gẫu về những chuyện lặt vặt chẳng mấy quan trọng, ông còn hỏi tôi kỳ nghỉ đông vừa rồi về nước với bố mẹ có vui không.
Sa Thuỵ Kim hiểu tôi đến mức có thể nói là nắm rõ từng li từng tí. Khi đó tôi cũng đã nói điều này với ông, và ông tỏ ra khá đồng tình.
Cuối cuộc gọi, Sa Thụy Kim hỏi tôi có dự định gì cho tương lai. Tôi trả lời ngắn gọn: “Về nước, tìm một viện nghiên cứu hoặc trường đại học ở thành phố trực thuộc tỉnh để làm việc.”
Ông trầm ngâm một lúc rồi nói: “Được đấy. Chúng ta quen nhau… cũng mười năm rồi nhỉ?”
Những lời này không giống ông chút nào. Một cảm giác bất an mơ hồ bỗng len lỏi trong tâm trí, khiến trái tim tôi như muốn thắt lại.
Tôi hỏi: “Chú không sao thật chứ? Nghe chú nói vậy, tự dưng em thấy lo…”
Ông bật cười, nói rằng mình thì có chuyện gì được. Chẳng qua hôm nay gặp lại thuộc cấp cũ ở Hán Đông, nên mới chợt nhớ đến quãng thời gian từng công tác ở đó. Nghe vậy, tôi thấy yên tâm hơn phần nào.
Cuộc gọi kết thúc, tôi nằm trên giường trằn trọc mãi mà không sao ngủ được.
Mười năm rồi, mới đó mà đã mười năm trôi qua rồi ư? Một phần ba quãng đời hữu hạn của tôi, gần như mọi cung bậc cảm xúc đều gắn chặt với người đàn ông này.
Tối hôm đó, tôi trằn trọc rất lâu mới ngủ được. Trong cơn mơ, hiếm hoi lắm tôi mới thấy lại những chuyện xảy ra hồi còn ở Hán Đông. Câu nói bâng quơ ông từng thốt ra trên núi Diêm Đài liên tục xuất hiện trong giấc mộng mị.
Sáng hôm sau, hiếm khi tôi dậy sớm như vậy. Việc đầu tiên tôi làm là gửi tin nhắn cho Sa Thuỵ Kim: “Mọi chuyện vẫn ổn chứ ạ?”
Lúc này trong nước đang là nửa đêm nên dĩ nhiên tôi không nhận được hồi âm. Mãi đến buổi trưa, khi tôi đang dùng bữa mới thấy ông nhắn lại: “Đừng suy nghĩ lung tung, bên này mọi thứ vẫn ổn.”
Trông thấy dòng tin nhắn ấy, tôi mới yên tâm mà ăn liền hai bát cơm.
Chuyện này nhanh chóng bị tôi quên bẵng đi, cuộc sống vẫn tiếp diễn như thường lệ. Mãi đến hơn nửa năm sau, tôi mới hay tin một vị quan chức cấp chính quốc gia họ Đàm ngã ngựa.
Sau Cách mạng Văn hóa, các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc dần trở nên ôn hòa hơn, đồng thời hình thành một quy tắc ngầm: không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị*.
(* 刑不上常委: Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị. Quy tắc này có thật và lần đầu bị phá vỡ bởi ông Tập trong vụ của Chu Vĩnh Khang.)
Tin tức này ngay lập tức khiến cho toàn bộ giới chính trị và dư luận dậy sóng.
Vì quan tâm đến tình hình của Sa Thụy Kim, nên trước nay tôi vẫn có thói quen theo dõi tin tức chính trị trong nước.
Bản tin thời sự dùng ngôn từ hết sức gay gắt, liệt kê hàng loạt tội danh nghiêm trọng như tham vọng chính trị bành trướng, phẩm chất suy đồi, nhận thức méo mó về quyền lực, làm lộ bí mật quốc gia cùng nhiều cáo buộc khác.
Đọc xong bài báo, tôi định nhắn hỏi Sa Thuỵ Kim có bị liên luỵ hay ảnh hưởng gì không, nhưng sợ làm phiền ông nên cuối cùng lại thôi.
Mãi sau này, khi đọc được một bài báo của truyền thông Hồng Kông, tôi mới biết chuyện gì đã xảy ra khi ấy.
Người đứng sau chiến dịch bắt giữ vị quan chức cấp cao kia chính là Chánh văn phòng Trung ương Đảng Sa Thuỵ Kim.
Giờ thì cuối cùng cũng có lời giải cho động thái thanh lọc Văn phòng Trung ương Đảng và siết chặt quyền kiểm soát đối với Cục Cảnh vệ Trung ương của ông vào hai năm trước. Hoá ra tất cả đều là nhằm chuẩn bị cho năm thứ ba lật đổ vị quan chức cấp chính quốc gia kia.
Việc Dương Kiến Sơn điều Sa Thụy Kim về làm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng có lẽ là vì chuyện này. Có thể xem đây là một nhiệm vụ trọng yếu mà ông ta đã giao phó cho Sa Thụy Kim.
Bài báo đó rất dài, nội dung chi tiết đến mức ghi rõ cả ngày tháng cụ thể. Tôi thử nhẩm tính, không ngờ lại chính là ngày Sa Thụy Kim gọi cho tôi cuộc điện thoại không đầu không đuôi kia.
Chiều tối hôm đó, Sa Thụy Kim đích thân chỉ huy Đội Hành động Đặc biệt thuộc Cục Cảnh vệ Trung ương đến thẳng nơi ở trong Trung Nam Hải của vị quan chức cấp cao kia.
Vị này từng đảm nhiệm nhiều chức vụ trong các cơ quan vũ trang của quân đội và Bộ Công an. Cộng thêm việc ông ta có một phe cánh chính trị riêng, nên không ai dám chắc liệu ông ta có sở hữu lực lượng vũ trang tư nhân hay không.
Sa Thụy Kim đã có cuộc đụng độ căng thẳng với lực lượng canh gác trong Trung Nam Hải. Ngay khi vào được nhà của vị quan chức cấp cao, ông lập tức cho cắt đứt mọi liên lạc giữa gia đình họ Đàm với bên ngoài, đồng thời ra lệnh tạm giữ thư ký, vệ sĩ, tài xế và người giúp việc của ông ta.
Toàn bộ quá trình được Sa Thụy Kim xử lý kín kẽ, không chút sơ hở. Dù phải đối mặt với vị đại tướng họ Đàm khét tiếng, từng xông pha chiến trường thời trai trẻ, Sa Thuỵ Kim vẫn điềm nhiên tuyên đọc quyết định của Trung ương.
Đọc đến cuối, tôi mới nhận ra toàn thân đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Đây chính là lý do ông đưa tôi ra nước ngoài.
Dương Kiến Sơn là một nguyên thủ nhu nhược, chú trọng duy trì trật tự cũ hơn là thúc đẩy cải cách. Giờ đây, khi gặp được một thuộc cấp có năng lực xuất sắc và tác phong quyết liệt như Sa Thuỵ Kim, ông ta cuối cùng cũng ra tay thanh trừng một vài thế lực lớn trong nội bộ Đảng.
Đây là một việc hết sức nguy hiểm, bởi nếu thất bại sẽ phải hứng chịu đòn phản công và trả thù khốc liệt từ phía đối thủ.
Vài ngày sau, tôi gọi cho Sa Thuỵ Kim một cuộc điện thoại. Ngay khi cuộc gọi được kết nối, tôi đã hỏi thẳng: “Chú đưa em ra nước ngoài là vì chuyện đó đúng không?”
“Đúng vậy.” Ông đáp: “Khi nào em về?”
Ông thừa nhận một cách thẳng thắn, điều này khiến tôi không biết phải nói gì.
“Còn khoảng hai tháng nữa là chương trình kết thúc.” Tôi ngẫm nghĩ rồi bổ sung thêm: “Nhưng em có thể về nước sớm hơn dự kiến.”
“Tôi đợi em ở Bắc Kinh.”
“Có thể đến Hán Đông không? Chắc dạo này chú cũng đỡ bận hơn rồi nhỉ?”
Ông khẽ cười: “Được, nghe theo ý em.”
