Tôi đã đặt vé chuyến bay sớm nhất để về nước và báo trước thời gian với Sa Thụy Kim. Ông nói sẽ ra sân bay đón tôi.
Tôi không chuẩn bị nhiều hành lý, chỉ ghé qua cửa hàng quà tặng mua vài món đồ lưu niệm nhỏ. Khi máy bay cất cánh, nhìn xuống bên dưới có thể thấy những đám mây trắng dày đặc xếp chồng lên nhau. Ánh nắng chiếu xiên vào một bên mây, nhuộm chúng thành sắc cam rực rỡ. Tôi bất giác nhìn theo một lúc lâu.
Nắng ở Hán Đông thật tuyệt, bầu trời xanh biếc không một gợn mây. Vừa bước ra khỏi sân bay, tôi đã thấy chiếc xe thương vụ quen thuộc đậu sẵn. Sau khi lên xe, Sa Thụy Kim nắm lấy tay tôi, nhìn chăm chú một lượt rồi hỏi có phải ở nước ngoài ăn uống không đúng bữa không mà trông tôi gầy đi thấy rõ.
Trong lòng tôi thầm nghĩ kiểu quan tâm này giống hệt mẹ mình, nhưng không dám nói ra, chỉ lặng lẽ nhét món quà vào lòng ông rồi bảo: “Đây, cái này mua cho chú đấy.”
Ông đặt chiếc hộp nhỏ sang một bên: “Cảm ơn em.”
Tôi tò mò hỏi: “Chú không mở ra xem thử à?”
“Em tặng gì tôi cũng thích cả.” Ông mỉm cười, ánh mắt dịu dàng đến mức không thể diễn tả bằng lời.
“Đi thôi nào, tôi đưa em đi ăn, coi như bữa tiệc mừng em về nước.”
Chỗ ăn đã được ông sắp xếp từ trước, món cũng gọi xong xuôi cả rồi. Tôi nhìn vào thực đơn định gọi thêm, nhưng thấy những món mình thích cơ bản đều đã có nên lại thôi.
Trong bữa ăn, chúng tôi trò chuyện một lúc về cảnh sắc ở nước ngoài và tình hình ở Bắc Kinh. Ông thản nhiên nói rằng mình đang lo liệu những công việc cuối cùng, mọi thứ đều đã sắp xếp ổn thỏa.
Nghe vậy, tôi cũng thấy yên tâm hơn và tập trung vào ăn uống.
Khi bữa ăn trôi qua được một nửa, ông bỗng cất tiếng: “Tôi để ý thấy tài khoản của em có mấy khoản chuyển tiền lớn?”
Ồ, lãnh đạo đang kiểm tra việc chi tiêu của tôi đây mà.
Dù sao cũng là tiền ông cho, nên tôi nghiêm túc báo cáo: “Em đem đi quyên góp rồi, coi như thực hiện chủ trương phân phối lần ba*.”
(* 第三次分配 (Lần phân phối thứ ba): là một khái niệm kinh tế – xã hội khá đặc thù của Trung Quốc. Hiểu đơn giản thì “lần phân phối thứ ba” là lấy của người giàu chia cho người nghèo )
Hiện trong tài khoản của tôi vẫn còn số dư lên đến bảy chữ số. Nếu bán cả căn hộ ở khu vành đai ba Bắc Kinh, có lẽ sẽ chạm mốc tám chữ số.
Chừng ấy tiền đủ để bảo đảm cả đời này tôi và bố mẹ không phải lo chuyện cơm áo gạo tiền. Với mức sống của gia đình tôi, thật sự không thể nào tiêu hết được.
Thế nên tôi đã trích gần một nửa số tiền để mang đi quyên góp, từ cứu trợ thiên tai cho đến các chương trình dài hạn về giáo dục và xóa đói giảm nghèo.
Tôi tự biết mình không phải người cao thượng đến mức có thể hy sinh cả cuộc đời cho người khác. Nhưng những việc tốt nằm trong khả năng thì tôi vẫn có thể làm.
Thấy Sa Thụy Kim im lặng, tôi lập tức nói thêm: “Chú yên tâm, em xem xét kỹ lắm. Với những khoản chuyển tiền lớn, em đều kiểm tra thông tin và giấy tờ chẩn đoán của bệnh viện, sau đó chuyển thẳng tiền vào tài khoản người cần giúp, không để bên trung gian có cơ hội trục lợi đâu. Chẳng hạn như cô gái tên Tiểu Cố bị bỏng nặng vì tai nạn kia, em ủng hộ ba trăm nghìn, nhưng trước đó em đã kết bạn WeChat với cô ấy để xác nhận thông tin…”
“Không sao.” Ông xua tay: “Em không cần giải thích kỹ đến vậy đâu.”
Tôi ăn một miếng cơm rồi khẽ đùa: “Có gì đâu, tiền này là chú cho em mà, sau này công đức tính hết cho chú đấy.”
Ông nở nụ cười trầm ấm rồi nhẹ nhàng lướt qua chủ đề này: “Tôi là đảng viên nên không tin mấy cái đó.”
Tôi đặt đũa xuống, lấy khăn giấy lau miệng rồi bước đến chỗ Sa Thụy Kim. Ông nhìn tôi đầy thắc mắc, nhưng ngay sau đó đã hiểu. Chúng tôi trao nhau một cái ôm thật trọn vẹn và ấm áp, không liên quan đến tình yêu hay bất kỳ điều gì khác.
Ông nói: “Tư Vũ, mừng em trở về.”
Ánh nắng lúc bốn giờ chiều thật dễ chịu, gió mơn man thổi qua, mát mẻ đầy khoan khoái.
Thật kỳ lạ, Hán Đông trong ký ức của tôi lúc nào cũng có mưa dai dẳng, cái oi bức và ẩm ướt cứ bám riết trên da thịt, hiếm khi thấy thời tiết đẹp như hôm nay.
Sa Thụy Kim hỏi tôi có muốn ra ngoài đi dạo không, tôi vui vẻ đồng ý. Chúng tôi sánh vai trên con đường mòn trong công viên rợp bóng liễu ở Hán Đông, vệ sĩ của ông đi theo phía sau, giữ một khoảng cách nhất định.
Chúng tôi cứ thế thong thả dạo bước, trò chuyện câu được câu chăng.
Tôi nói: “Em không thích cách cư xử của đám con ông cháu cha.”
Ông lặng lẽ lắng nghe. Khi còn ở nước ngoài, tôi từng tiếp xúc với một vài hội đồng hương. Đó đều là những nhóm nhỏ quy tụ con cháu quan chức và giới nhà giàu trong nước.
Họ được hưởng điều kiện vật chất tốt nhất, tiếp nhận nền giáo dục ưu việt nhất. Trong lời ăn tiếng nói luôn thấp thoáng sự tự mãn và đầy rẫy tư tưởng phong kiến kiểu “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”.
Nghe có vẻ sến sẩm, nhưng tôi chưa từng quên con đường mình đã đi. Tôi là một “con mọt sách nhà quê” sinh ra và lớn lên tại thị trấn nhỏ. Thế giới mà tôi từng ngưỡng mộ và ao ước hoá ra không rực rỡ như tôi những tưởng. Ít nhất thì, nó không phù hợp với tôi.
Ánh nắng xuyên qua tán lá lay động, để lại những vệt sáng lốm đốm trên mặt đất. Ở phía xa, mặt hồ nhân tạo ánh lên những gợn sóng lấp lánh, thứ ánh sáng ấy chói loá đến mức khiến người ta nhìn mà hoa cả mắt. Giữa khung cảnh ngập tràn sắc xanh, Sa Thuỵ Kim lặng lẽ sánh vai bên tôi. Đôi giày da của ông bước lên những phiến đá lát nền xanh, tựa như đang bước đi trên ranh giới của một giấc mộng mị.
Cuộc trò chuyện cũng theo đó trở nên nhẹ nhàng hơn. Chúng tôi thoải mái nói về những xu hướng đang thịnh hành trên mạng hay các chủ đề nóng hổi gần đây.
Khi đi ngang qua cửa hàng tiện lợi, tôi ghé vào mua hai hộp trái cây, một hộp cherry và một hộp dâu tây. Thế là trên đường đi, chúng tôi lại tiếp tục trò chuyện về các loại hoa quả. Tôi còn kể rằng dâu tây ở châu Âu có hương vị giống hệt củ cải sống.
Chúng tôi nói chuyện trên trời dưới đất, tận hưởng niềm vui và cảm giác hạnh phúc khi gặp lại nhau, đồng thời cố tình lảng tránh những chủ đề dễ gây bất đồng như chuyện công việc, tương lai hay sự chia ly đã được định trước.
Nhưng rồi cuộc trò chuyện vẫn phải quay về những chủ đề ấy.
Chúng tôi thuê một chiếc thuyền nhỏ để chèo trên hồ nước nhân tạo. Chiều hôm đó trời lặng gió, mặt hồ yên ả, gần như không có nguy cơ lật thuyền nên vệ sĩ không đi cùng. Chỉ có hai chúng tôi lên thuyền, mặc cho con thuyền trôi lênh đênh trên mặt nước.
Trên những bãi nổi giữa hồ có trồng vài cụm lau sậy. Hồ nước nhân tạo này rất lớn, có những nơi vượt khỏi tầm nhìn, gần như trải dài đến vô tận và hòa vào sắc xanh biếc nơi chân trời xa xăm.
Ánh nắng phản chiếu lấp loáng trên mặt hồ, hắt lên khuôn mặt Sa Thụy Kim, khiến những đường nét hằn sâu trên gương mặt ông hiện rõ.
Cuối cùng, tôi cũng đưa mắt nhìn thẳng vào ông.
Ông đã già rồi.
Khoảng thời gian mười năm đã khiến vị Bí thư Tỉnh uỷ Hán Đông phong độ rạng ngời trong ký ức của tôi đổi khác phần nào.
“Chú già rồi, em cũng không còn trẻ nữa.” Tôi nhìn vào những dấu vết thời gian hằn trên gương mặt ông, chậm rãi cất lời.
“Trong mắt tôi, em lúc nào cũng chỉ là một đứa trẻ.”
“Nhưng em không còn là trẻ con nữa rồi.”
Tuổi tâm lý của con người không phải lúc nào cũng tăng theo tuổi sinh học. Thành thật mà nói, khi gặp Sa Thụy Kim, tâm hồn tôi đang trong giai đoạn lột xác đầy đau đớn. Tôi vướng vào một mối quan hệ sai trái, gặp phải những giáo sư luôn muốn được sinh viên hầu hạ, nịnh bợ, rồi bị cuốn vào môi trường học thuật lạnh lùng, bon chen, nơi kẻ mạnh được tâng bốc còn kẻ yếu thì bị chà đạp… Tất cả những điều đó đã buộc tôi phải trưởng thành.
Về sau, khi mối quan hệ giữa tôi và Sa Thụy Kim đã ổn định, ông mang đến cho tôi một cuộc sống vật chất đủ đầy, đến mức suốt những năm qua, tôi không còn trải qua những biến động dữ dội về mặt tâm lý, mà chỉ chậm rãi trưởng thành.
Nhưng suy cho cùng, tôi đâu còn là một đứa trẻ nữa. Tôi có những yêu cầu nhất định về phẩm giá và tự do. Trong mối quan hệ này, tôi đã nhẫn nhịn và thoả hiệp quá lâu rồi, giờ là lúc mọi thứ nên dừng lại.
Sa Thụy Kim định nói gì đó, tôi lặng lẽ nhìn ông, cố tìm xem trên gương mặt ấy có điều gì để lộ ra không.
Một cơn gió thổi qua làm tóc tôi rối tung. Tôi theo phản xạ cúi đầu chỉnh lại, vô tình bỏ lỡ nét mặt của ông, chỉ nghe thấy ông khẽ cất tiếng: “Chuyện này để lát nữa hẵng nói.”
Tôi lặng im cúi gằm mặt, một lúc sau mới nắm lấy tay ông. Con thuyền lững lờ trôi về phía xa, như một chiếc nôi đong đưa qua lại. Tôi ngáp dài một cái. Ăn uống no nê, lại được mặt trời sưởi ấm, tôi bắt đầu thấy buồn ngủ, bèn tựa vào Sa Thụy Kim mà chợp mắt.
Bên tai thấp thoáng tiếng thở dài khe khẽ, nhưng dường như đó chỉ là ảo giác của riêng tôi.
Đến khi mơ màng tỉnh giấc, trời đã nhá nhem tối. Lúc này, tôi đang nằm nghiêng trên chiếc thuyền gỗ, đầu gối lên đùi Sa Thuỵ Kim, trên người đắp áo khoác của ông.
“Dậy rồi à?” Giọng ông từ bên trên vọng xuống.
Tôi vẫn chưa tỉnh táo hẳn, chỉ biết ngẩn người nhìn lên bầu trời đầy sao.
Bầu trời đêm hôm đó đẹp đến mức không chân thực, khiến tôi thường tự hỏi liệu làn gió mơn man, ánh nắng ban chiều và cả ánh sao đêm hôm ấy có phải chỉ là ảo giác do tôi tưởng tượng ra?
“Chú còn nhớ không?” Tôi cất tiếng: “Trong lần đầu tiên phát sinh quan hệ, chú từng nói rằng trước vũ trụ bao la, loài người chẳng qua cũng chỉ là những con kiến nhỏ bé.”
“Quan điểm đó của tôi, đến nay vẫn không thay đổi.”
Tôi không muốn ngồi dậy nên cứ thế gối đầu lên đùi ông, chỉ đổi sang tư thế nằm ngửa.
Thời gian như ngưng đọng vào khoảnh khắc ấy. Xung quanh tĩnh lặng đến lạ kỳ, chỉ có tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền, tiếng cót két vang lên mỗi khi thuyền khẽ lắc, tiếng côn trùng râm ran trong bụi lau và tiếng gió luồn qua kẽ lá. Tất cả hợp lại thành một bản giao hưởng du dương của thiên nhiên.
“Về sau, em thường hay nghĩ đến vấn đề này và tự hỏi, nếu nhìn từ một nơi thật xa thì con người chúng ta trông sẽ như thế nào? Đối với muôn vàn vì tinh tú trên cao, những chiếc xe sang, những căn biệt thự hay tất cả những công trình nguy nga kia liệu có ý nghĩa gì không? Chúng nhỏ bé đến mức thật khó tin.”
Bàn tay ông khẽ v**t v* má tôi, nhưng tôi nghiêng đầu né tránh. Ngẩng đầu nhìn lên, tôi chỉ thấy khuôn mặt ông chìm trong bóng tối, chẳng thể nào nhìn rõ nét mặt.
Thế giới mà chúng ta đang sống giống như một con thuyền cô độc trôi dạt giữa vũ trụ bao la.
“Có lẽ trong quan niệm của nhiều người, con người chỉ là một loài động vật có vòng đời hữu hạn và sống theo bản năng. Em tôn trọng cách nghĩ đó, nhưng em không muốn sống như vậy. Con người là con người, không phải dã thú, thế nên hẳn phải có điểm khác biệt đúng không?”
Sau một hồi im lặng, tôi bắt đầu thấy kỳ lạ nên ngồi dậy, nhìn sang Sa Thụy Kim: “Này, chú nói gì đi chứ. Không thì em có khác gì đứa dở hơi đang lảm nhảm một mình đâu.”
Ông chân thành nói: “Tôi luôn biết em là người như vậy. Tôi chỉ có thể nói, con đường em chọn vốn đã định sẵn sẽ cô độc và đầy gian truân.”
“Chẳng phải chính chú cũng đang đi trên con đường như vậy hay sao?”
Ông ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: “Cũng đúng nhỉ.”
Chiếc thuyền từ từ cập bến. Ông nắm lấy tay tôi rồi cùng bước lên bờ, đặt chân lên mặt đất vững chắc.
Cuối cùng, tôi nói: “Sau này em vẫn còn kỳ nghỉ hè và nghỉ đông mà. Em sẽ đến Bắc Kinh thăm chú.”
Ông không nói gì, chỉ siết chặt tay tôi hơn một chút, như để đáp lại rằng ông đã nghe thấy.
Một Sa Thụy Kim như vậy mới chính là người đã khiến tôi xao xuyến thuở ban đầu. Thì ra, ông vẫn giữ được khía cạnh đó. Nếu như được chọn lại, tôi chắc chắn vẫn sẽ chọn yêu ông.
Vài tháng sau, tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Sa Thụy Kim, người được đánh giá là ứng cử viên nổi bật, đã chính thức được bầu vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị, đúng như dự đoán của giới quan sát.
Thời điểm đọc được bài báo đó, tôi vừa về nhận công tác tại một trường đại học ở tỉnh nhà.
Vừa thu xếp xong chuyện thuê nhà, chuyển hồ sơ cùng mấy việc lặt vặt, tôi lại bận rộn chuẩn bị cho việc xuất bản luận án tiến sĩ đã dày công chỉnh sửa suốt mấy năm qua, nên chỉ có thể gửi lời chúc mừng đến ông từ xa qua tin nhắn.
Đêm đến, tôi chìm sâu vào giấc mộng mị, hoàn toàn không hay biết điện thoại đặt trên đầu giường sáng lên. Màn hình hiển thị một tin nhắn chưa đọc với nội dung: “Cảm ơn em, Tư Vũ.”
