Một tuần trước sinh nhật, Sa Thụy Kim hỏi cô năm nay muốn tổ chức thế nào. Cố Tư Vũ chau mày suy nghĩ một lát, cuối cùng đáp: “Để em nghĩ đã, dạo này em cũng đang cân nhắc.”
Sa Thụy Kim vốn nghĩ cô sẽ như trước đây, tìm một đường link trên mạng và gửi cho ông thanh toán. Có lúc là hình ảnh một chiếc bánh, có lúc là một bộ sách, cũng có lúc là một món trang sức, vừa tiện lợi vừa đơn giản. Món đắt nhất có lẽ là một bộ sách kinh điển Đạo giáo về nghi thức gia truyền ở định dạng điện tử, mua từ một đạo sĩ, dùng làm tư liệu để dịch thuật và hiệu đính.
Xem ra lần này Cố Tư Vũ có dự định khác.
Thực ra, không chỉ Sa Thụy Kim mà trước đây Cố Tư Vũ cũng chưa bao giờ tổ chức sinh nhật. Cô thường quy kết điều này là do tuổi thơ nghèo khó, nhưng trong lòng lại hiểu rõ rằng nghèo khó và thiếu thốn tình thương không hoàn toàn đồng nhất với nhau, chỉ là trong đời thực chúng thường bị lẫn lộn.
Bốn năm đầu tiểu học cô học ở trường làng, mỗi khối chỉ có vài học sinh. Đến năm lớp năm, do số lượng học sinh quá ít nên trường bị giải thể. Để tiếp tục đi học, cô được đưa ra thị trấn, học tiếp ở một trường tiểu học tại đây.
Có một khoảng thời gian, mối quan hệ giữa cô và bố mẹ rất lạnh nhạt. Từ lâu cô đã nhận ra rằng hai người không thực sự yêu thương con cái, đồng thời đã quen với thế giới riêng của một cặp vợ chồng.
Họ thường xuyên tụ tập chơi bài hoặc khiêu vũ với đồng nghiệp mà quên mất rằng ở nhà còn có một đứa con chưa đến mười tuổi.
Không chỉ Cố Tư Vũ cảm thấy khó thích nghi, ngay cả bố mẹ cô cũng không quen với sự hiện diện của đứa con gái xa lạ này.
Có lần, cô gặp phải chuyện ấm ức ở trường nên tâm trạng rất tệ. Cụ thể là chuyện gì thì cô đã quên rồi, chỉ nhớ khi đó không muốn về nhà nên cô đã đi bộ hơn hai tiếng để đến tìm ông bà nội. Bố mẹ chỉ đưa tiền ăn mà hoàn toàn không biết con gái không về nhà.
Ông nội đã đạp xe đưa cô về. Đó là một chiếc xe đạp kiểu cũ với phần yên phụ lắp ở phía trước. Cô ngồi trên yên, cảm giác như đang được ông ôm vào lòng.
Con đường đất gập ghềnh, Cố Tư Vũ cúi đầu nhìn những rãnh đất màu vàng nâu cùng đám hoa dại ven đường lùi dần về phía sau, trong lòng có chút hụt hẫng. Chính cô cũng không biết phải gọi tên cảm xúc ấy là gì.
Mỗi khi nhớ về những ký ức xa xăm ấy, trong lòng cô bất giác dấy lên sự hoài niệm với quê hương. Cảm giác này cũng xuất hiện khi cô đọc những trang sách viết về lịch sử di cư của người tiền sử và lịch sử văn minh buổi sơ khai, đó là sự hoài niệm của cả một nền văn minh.
Thời kỳ nổi loạn của cô đến rất muộn, thậm chí có thể nói chưa bao giờ thực sự xuất hiện.
Những năm trung học, khi bạn bè đồng trang lứa bước vào tuổi dậy thì, cô mới bắt đầu cảm thấy mình không còn xa cách với bố mẹ nữa. Nguyên nhân phần lớn là bởi cô có thành tích học tập xuất sắc, lại ngoan ngoãn điềm đạm, khiến cho bố mẹ trở thành đối tượng được các đồng nghiệp ngưỡng mộ. Thêm vào đó, sau vài năm chung sống họ cũng dần trở nên thân thuộc hơn.
Hồi trung học, lần đầu tiên cô nghe bạn bè kể về việc tổ chức sinh nhật, họ sẽ mời cả nhóm bạn đến nhà ăn bánh kem và được tặng quà. Thế là đến sinh nhật mình, cô đã dành hết số tiền thường ngày chắt chiu được để mua một chiếc bánh kem nhỏ.
Tối đó mẹ đi đánh bài về, phát hiện dấu vết trong thùng rác thì bực bội nói với cô rằng sinh nhật thực chất là ngày người mẹ chịu khổ, nếu không mang thai Cố Tư Vũ thì bà có thể đã sống tốt hơn.
Ngày hôm sau, mẹ luộc cho cô hai quả trứng, nhiều hơn bình thường một quả, nhưng kể từ đó Cố Tư Vũ chẳng còn muốn tổ chức sinh nhật nữa.
Tình trạng này đã thay đổi phần nào sau khi lên đại học, khi cô có nhiều tiền tiêu vặt hơn. Trong hai năm đầu đại học, cô bắt đầu có những hành động bộc phát để bù đắp cho bản thân, bao gồm việc mua bánh sinh nhật để chia cho cả phòng ký túc xá và vào kỳ nghỉ, cô đến công viên giải trí ở thị trấn, trong một ngày chơi đến sáu lần trò “người bay trên không”.
Thực ra, những thứ này chẳng hề đắt đỏ, ít nhất là rẻ hơn rất nhiều so với tưởng tượng của cô.
Khi đó Cố Tư Vũ đã nghĩ, nếu có con cô nhất định sẽ đối xử tốt với nó. Nhưng rồi sau đó cô lại trở về trạng thái bình thường, có lẽ cô đã lỡ mất cái tuổi có thể tìm thấy niềm vui trong những hoạt động ấy.
Vì thế mà khi Sa Thuỵ Kim nhắc đến sinh nhật của cô, Cố Tư Vũ cảm thấy vui vô cùng, thậm chí còn phá lệ mua hẳn một chiếc bánh kem. Dù đó không phải ngày sinh thật sự của cô, nhưng ít nhất Sa Thuỵ Kim đã chịu hỏi.
Về sau, hai người đa phần không tổ chức sinh nhật. Sau khi mối quan hệ đã ổn định, mỗi dịp sinh nhật Cố Tư Vũ thì họ lại đang ở xa nhau, chỉ có thể gửi tin nhắn chúc mừng. Sinh nhật năm nay là lần đầu tiên cả hai cùng ở Bắc Kinh.
Ngày nay, nhiều lãnh đạo cấp cao không công khai danh tính của người nhà. Một là để ngăn chặn sự thâm nhập của các thế lực bên ngoài, hai là nhằm giảm bớt sự chú ý của công chúng đối với tầng lớp đặc quyền.
Cố Tư Vũ không mong đợi việc được cùng Sa Thụy Kim xuất hiện nơi công cộng và bị nhận ra. Nếu là cô của ngày trước thì có lẽ còn có chút khao khát được người khác chú ý và ngưỡng mộ. Còn ở thời điểm hiện tại, cô chỉ mong mọi thứ được giữ nguyên hiện trạng, không có gì thay đổi.
Do vậy mà vào hôm sinh nhật, cô không khỏi sững sờ khi nhìn thấy chiếc xe chuyên dụng đỗ ngay dưới lầu khoa Nhân Văn.
Chiếc xe này đương nhiên không phải xe công vụ, vậy nên chưa đến mức bị người ta nhận ra, nhưng do đã ngồi quá nhiều lần nên từ lâu Cố Tư Vũ đã thuộc lòng biển số.
Hôm đó cô tham dự buổi đọc sách của thầy Trần, vì tự nguyện chia sẻ miễn phí những tư liệu mình từng mua nên cô được giữ lại một lúc, thành ra rời khỏi đó trễ hơn thường lệ.
“Thầy Trần chẳng qua là không muốn mang ơn cô thôi.” Hứa Quan mỉm cười giải thích.
Vừa rồi thầy Trần giữ hai người lại là để thống nhất xem nên đưa cho Cố Tư Vũ bao nhiêu thì hợp lý. Toàn bộ kinh phí nghiên cứu của thầy đều do Hứa Quan quản lý, thấy Cố Tư Vũ kiên quyết không nhận thầy mới chịu thôi.
Cô đáp: “Tôi hiểu. Chỉ là số tài liệu đó tôi có sẵn, đem ra cùng nghiên cứu thì tiến độ sẽ nhanh hơn.”
Nói xong, cô dừng lại chốc lát bên cây cột lớn ở cửa tầng một, “Chút nữa tôi sẽ gửi đường link vào nhóm.”
“Không cần đâu, cô gửi thẳng cho tôi là được. Nhóm chung đó cũng ít người dùng. Tôi có ổ cứng, tới lúc đó tôi sẽ tải xuống rồi chuyển cho mọi người trong nhóm nghiên cứu.”
Hứa Quan nói tiếp: “Cô giáo tiểu Cố có muốn đến căng-tin dùng bữa không? Đợt này căng-tin khu phía tây có món mới đấy.”
Lúc này cũng đã đến giờ ăn, Cố Tư Vũ định gật đầu thì chợt trông thấy chiếc xe quen thuộc. Cô ngạc nhiên đến mức ngẩn ra.
Hứa Quan nhìn theo ánh mắt cô nhưng không hiểu cô đang chú ý đến điều gì. Cố Tư Vũ thu lại ánh nhìn rồi đáp: “Tôi còn có việc, để lần sau vậy.”
Cô bước lên xe, trông thấy vị lãnh đạo cấp cao đang ngồi ở ghế sau thì trong lòng thoáng dấy lên cảm giác ngượng ngập, như thể vừa bị bắt gặp làm chuyện xấu.
Sa Thụy Kim hỏi: “Sao ra muộn thế?”
Ý ông là những người khác đều đã ra cả rồi, chỉ còn Cố Tư Vũ và một bạn học khác tụt lại phía sau.
“Thầy Trần giữ em lại có chút việc.” Cô giải thích, “Người ban nãy là trợ lý nghiên cứu của thầy, nên cũng phải ở lại cùng.”
Sa Thụy Kim chỉ ừm một tiếng, có vẻ chẳng mấy bận tâm. Cố Tư Vũ thấy vậy thì thở phào nhẹ nhõm, hỏi ông sao hôm nay lại đến trường đón mình.
Ông nói: “Đưa em ra ngoài xem kịch.”
Dạo gần đây thư ký đã quen với việc Sa Thụy Kim thỉnh thoảng tan làm sớm. Chuyện này cũng khiến ông rút ra được kết luận: có lẽ một trong những nguyên nhân khiến mình trở nên cuồng công việc là bởi về nhà sớm cũng chẳng có việc gì để làm.
Cố Tư Vũ chau mày, phản ứng đầu tiên là: “Xem kịch gì cơ? Em đâu có thích xem kịch.” Sau đó cô mới nhận ra trọng điểm không phải điều này, “Ra ngoài ư? Đi đâu vậy?”
Còn về việc sau đó cô dè dặt đứng bên cạnh Sa Thụy Kim, bắt tay với lãnh đạo Nhà hát Lớn Quốc gia, thì trong trí nhớ của cô lại chẳng mấy rõ ràng. Cố Tư Vũ thậm chí còn không nhớ mình đã được giới thiệu với thân phận gì, chỉ mơ mơ màng màng gặp gỡ cả đám người.
Lãnh đạo nhà hát vốn định cùng họ xem kịch nhưng đã bị Sa Thụy Kim khéo léo từ chối.
Ông khi làm việc và trong cuộc sống đời thường hầu như không khác biệt. Cố Tư Vũ ngẫm nghĩ một lúc mới phát hiện, thật ra vẫn có một chút nhưng vô cùng nhỏ bé, gần như không thể phân biệt. Có lẽ chiếc mặt nạ xã giao trong công việc từ lâu đã hòa vào máu ông, không thể tách rời.
Trong đầu cô chợt nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: Liệu có tồn tại một phiên bản Sa Thụy Kim thuần tuý, chỉ thuộc về bản thân ông không? Hay những gì cô nhìn thấy trong những khoảnh khắc đời thường đã là toàn bộ con người thật của ông rồi?
Hai người bước vào khán phòng từ cửa hông rồi ngồi ngay tại hàng ghế đầu tiên, Sa Thụy Kim thậm chí không mang theo cảnh vệ. Sau đó, họ rời đi trước khi vở diễn kết thúc để tránh thời điểm khán giả ra vào.
Lãnh đạo nhà hát đều ra tiễn.
Không gióng trống khua chiêng dẫn theo cả đoàn tuỳ tùng, không yêu cầu phong toả khán phòng để độc chiếm vở kịch, càng không làm phiền nhân viên nhà hát phải đón tiếp hay đưa tới hậu trường tham quan. Với cấp bậc của Sa Thụy Kim, cách sống như vậy đã được coi là hết sức giản dị. Nhưng dẫu sao đây vẫn là một dạng đặc quyền, vốn không thể thay đổi chỉ bằng ý chí hay sở thích cá nhân.
Cố Tư Vũ nhìn Nhà hát Lớn Quốc gia dần lùi xa qua cửa kính xe, trong lòng chợt dấy lên trăm mối ngổn ngang.
“Lại nghĩ gì nữa thế?”
Nghe ông hỏi, Cố Tư Vũ trầm ngâm một hồi mới đáp: “Chủ nhiệm Sa, nếu hôm nay có người đăng lên mạng thì chắc chắn chú sẽ được ca ngợi là một vị quan thanh liêm.”
Sa Thụy Kim bật cười, suy nghĩ của Cố Tư Vũ thường nằm ngoài dự đoán của ông. Ông còn tưởng cô đang băn khoăn về chuyện hai người xuất hiện ở nơi công cộng.
“Không ai đăng lên đâu, cùng lắm là bị người ta nhận ra rồi bàn tán thôi.” Ông mỉm cười rồi dí dỏm nói tiếp: “Chẳng lẽ lại cấm người ta nói? Tôi đâu phải kẻ không thể xuất hiện công khai, em cũng vậy.”
Khi mối quan hệ giữa Cố Tư Vũ và Sa Thụy Kim dần được nhiều người trong giới lãnh đạo cấp cao biết đến, bản thân cô cũng không chắc cuộc sống và sự nghiệp của mình sẽ gặp phải những biến đổi thế nào.
Cô dám khẳng định bản thân không bao giờ dựa hơi ông để mưu cầu danh lợi, còn Sa Thuỵ Kim cũng sẽ không dùng quyền lực của mình vào những việc như vậy.
Thậm chí, chính vì Sa Thụy Kim mà cô hầu như không động chạm tới những đề tài quá sát thực tiễn, bởi quan điểm cá nhân của cô có thể sẽ bị kẻ khác gán ghép một cách khiên cưỡng với quan điểm của ông. Cô cố gắng giới hạn phạm vi nghiên cứu trong những mảng nhỏ, ít người quan tâm và xa rời thực tế. Điều này khiến cho lĩnh vực nghiên cứu của cô bị hạn chế đáng kể.
Đây là điều hiếm hoi cô có thể làm để bảo vệ Sa Thụy Kim, dù có thể nó chỉ là mong muốn đơn phương từ phía cô.
