Cuối năm, Đại học X vẫn còn một số công việc cần Cố Tư Vũ quay lại xử lý. Trở về trường một tuần, cô không khỏi thở phào nhẹ nhõm vì một lần nữa được tự do và thanh tịnh.
Nửa năm qua sống chung với Sa Thụy Kim có thể coi như một phương pháp tiếp cận thực địa nhập vai, để cô có thể quan sát cận cảnh từng bữa ăn, giấc ngủ và sinh hoạt thường nhật của một vị cán bộ cấp chính quốc gia.
Cô ghé hiệu sách mua một cuốn sổ tay thật đẹp, sau khi trở về lập tức ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe trong nửa năm qua.
Điện thoại tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ thông tin, lại dễ bị Sa Thụy Kim phát hiện, nên viết vào sổ tay là lựa chọn an toàn nhất. Còn về cuốn hồi ký mà hôm sinh nhật nhắc tới, Sa Thụy Kim chỉ nói nếu cô muốn viết thì cứ viết, nhưng phải để ông xem qua trước, viết bao nhiêu thì xem bấy nhiêu.
Cố Tư Vũ chưa định viết ngay, thậm chí câu mở đầu nên viết thế nào cô cũng chưa quyết, cũng không muốn chia sẻ toàn bộ với Sa Thụy Kim. Vì vậy, dù miệng thì đồng ý, nhưng trong lòng cô lại có ý định riêng. Sa Thụy Kim khi đó đã liếc nhìn cô, nửa đùa nửa thật nói: “Đừng có giở trò đấy.”
Cô hơi lúng túng vì bị đoán trúng tim đen, đưa tay gãi mũi rồi mỉm cười đáp: “Em nào dám chứ…”
Nhưng sự thật đã chứng minh cô không chỉ dám thường thôi đâu, mà còn là dám vô cùng.
Trong cuốn sổ, cô đặt cho Sa Thuỵ Kim biệt danh là X, rồi tỉ mỉ liệt kê mọi chi tiết về cuộc sống thường nhật của ông, từ thói quen sinh hoạt đến những tài sản có thể có ở khắp nơi. Dĩ nhiên Sa Thuỵ Kim không thể nào trải lòng hết thảy những điều này cho cô viết thành tiểu sử, cô chỉ có thể từ từ sắp xếp và tổng hợp thông tin từng chút một.
Càng hiểu sâu hơn về Sa Thuỵ Kim, cô càng nhận ra những ghi chép về thời sinh viên quá hời hợt. Giờ đây, cô khao khát tái hiện một Sa Thuỵ Kim chân thực và đa chiều thông qua những điều mình tận mắt chứng kiến.
Nhiều năm trước, khi chuyện ghi âm bị Sa Thuỵ Kim phát hiện, Cố Tư Vũ đã phải gánh chịu sự trừng phạt khắc nghiệt. Đến tận bây giờ, cô vẫn chẳng thể nào cười nổi khi nhớ lại quãng thời gian ấy, chỉ có thể gắng gượng vờ như chưa từng xảy ra chuyện gì.
Thực tế đã chứng minh, thời gian có thể xoa dịu mọi vết thương. Con người vốn là giống loài dễ dàng quên lãng. Ngay cả những cuộc chiến tranh tàn khốc, đẫm máu cũng sẽ bị lãng quên sau vài thập kỷ, khi những thế hệ từng chứng kiến dần ra đi.
Cô bật đèn bàn, ngòi bút dừng lại trên trang giấy một lúc rồi mới bắt đầu viết, sử dụng hàng loạt ký hiệu và câu chữ mập mờ.
Cố Tư Vũ cũng biết rút kinh nghiệm từ những chuyện đã qua. Cô nghĩ, thôi thì viết một chương mà chỉ có mình đọc hiểu vậy. Thế là sau khi đặt ra vài quy tắc đơn giản, đối chiếu bảng chữ cái tiếng Anh, bảng chữ cái Latin và chữ số Ả Rập để chuyển đổi vài lần, cô đã tự tạo ra một hệ thống ngôn ngữ đơn giản của riêng mình.
Thứ này rất dễ giải mã, nhưng cũng dễ bị nhầm thành những dòng chữ nguệch ngoạc vô nghĩa. Điều này xem như có tác dụng như một lớp mật mã bảo vệ.
Ban đầu, Cố Tư Vũ cũng không quen với cách viết này, phải vừa nhìn bảng chuyển ngữ vừa chậm rãi ghi chép. Gặp chỗ khó, cô không khỏi vò đầu bứt tai, than thở rằng mình đang tự chuốc thêm phiền phức cho bản thân.
Cố Tư Vũ thích sự yên tĩnh và tự do khi sống một mình, nhưng chưa được mấy ngày thì Sa Thuỵ Kim đã giục về. Thấy hơi bực, cô cố tình để mấy tiếng sau mới trả lời tin nhắn. Tiếc rằng mánh khóe của cô không đem lại nhiều tác dụng, bởi Sa Thuỵ Kim vốn chẳng hứng thú với mấy trò giằng co tình cảm mà các cặp đôi yêu thích. Ông luôn thẳng thắn, không biết là do thật sự không nghĩ đến hay chỉ đơn giản là không bận tâm đến cảm xúc của người khác.
Hai ngày sau Cố Tư Vũ trở về Bắc Kinh. Trước khi lên đường, cô cẩn thận giấu cuốn sổ ghi chép những vấn đề nhạy cảm kia vào ngăn trong cùng của tủ sách.
Suốt nửa năm sớm tối bên nhau, hai người không xảy ra mâu thuẫn lớn nào, trái lại còn trở nên khăng khít hơn. Thật lòng mà nói, đôi khi Cố Tư Vũ cảm thấy rất bức bách, ngột ngạt. Nhưng sau khi về trường nghỉ ngơi một hai tuần, tâm trạng đã khá lên nhiều.
Ngồi ở ghế sau của xe chuyên dụng, cô vừa lướt điện thoại vừa nghĩ vu vơ, có lẽ họ sẽ không xảy ra cãi vã gì nữa. Thế nhưng, cô luôn quá tự tin vào suy nghĩ của mình. Chỉ vài tháng sau, giữa cô và Sa Thuỵ Kim bùng nổ một cuộc xung đột lớn nhất trong vài năm trở lại đây, mà mầm mống của nó đã âm ỉ manh nha từ nhiều tháng trước.
Vài ngày trước Tết Dương lịch, thầy Trần mời toàn bộ học trò đi ăn. Trong thâm tâm, Cố Tư Vũ thực sự không muốn tham dự, bởi trước đó cô đã được chứng kiến cách hành xử trên bàn tiệc của thầy Trần. Nhưng do thầy Trần hỏi thẳng mặt, cô vừa mới lộ vẻ do dự, định lấy cớ có việc bận để từ chối, thì đã bị chặn họng bằng một câu: “Nếu hôm đó cô giáo tiểu Cố bận thì chúng ta có thể đổi sang hôm khác. Chủ yếu là mọi người đều muốn dùng bữa với cô thôi.”
Thế là Cố Tư Vũ đành phải nhận lời. Cô tự an ủi bản thân rằng sống ở đời ai chẳng phải làm vài việc mình không thích. Huống hồ, cô chỉ là một giảng viên trẻ mới vào nghề của Đại học X, giới học thuật vốn nhỏ hẹp, việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp là điều hết sức cần thiết.
Nếu chuyện gì cũng dựa dẫm vào quyền lực của Sa Thuỵ Kim thì chi bằng ở nhà để ông nuôi luôn cho xong. Cần gì phải đi làm, cần gì phải cố gắng thể hiện giá trị bản thân trong khi cô chỉ là dựa vào quan hệ để chèn ép và chiếm lấy không gian sinh tồn của người khác?
Mấy ngày trước Tết, Sa Thụy Kim bận rộn tháp tùng lãnh đạo tối cao đi thị sát ở các địa phương. Tại khu vực Tiền môn, mỗi tối đều bắn pháo hoa rực sáng. Mấy hôm không gặp, sống một mình trong Trung Nam Hải, cô bất giác thấy nhớ Sa Thuỵ Kim.
Buổi tối, cô gọi video cho Sa Thụy Kim, thuận miệng nhắc đến chuyện thứ sáu sẽ đi ăn cùng thầy Trần và cả nhóm nghiên cứu. Sa Thụy Kim vừa trở về chỗ nghỉ được sắp xếp, thậm chí còn chưa kịp cởi áo khoác đã ngồi xuống chiếc ghế bành, vừa nghe cô kể chuyện vừa đưa tay day trán.
Thấy ông mệt mỏi, Cố Tư Vũ lập tức tạm dừng câu chuyện.
“Cứ nói tiếp đi.” Sa Thuỵ Kim lên tiếng rồi rời khỏi khung hình vài giây. Khi trở lại, chiếc áo khoác gió màu xanh đậm đã được cởi ra, trên người chỉ còn mặc áo sơ mi trắng, nút áo trên cùng cũng được ông tiện tay cởi ra khi quay lại chỗ ngồi.
“Sao chỉ mặc có hai lớp vậy?” Cố Tư Vũ cau mày, “Ở bên đó lạnh lắm, chú cẩn thận kẻo bị cảm đấy.”
“Biết rồi, biết rồi.” Sa Thuỵ Kim hơi mất kiên nhẫn, qua loa đáp lại cô vài câu rồi hỏi tiếp: “Thứ sáu các em mấy giờ thì xong?”
Cố Tư Vũ suy nghĩ một lúc: “Chắc tám giờ thôi. Bắt đầu từ sáu giờ thì đến tám giờ cũng phải kết thúc rồi chứ.”
“Được.” Ông nói, “Thời gian vừa khớp. Trưa hôm đó lịch trình cũng kết thúc, về đến Bắc Kinh chắc khoảng hơn bảy giờ. Tôi có thể đến trường đón em.”
“Chánh văn phòng Sa có kế hoạch gì sao?” Cố Tư Vũ lập tức hào hứng hỏi, kèm theo đó là tiếng cười khúc khích chờ đợi “lịch hẹn” của lãnh đạo.
“Hôm qua chẳng phải em gửi cho tôi chương trình biểu diễn đèn hoa ở Tiền Môn và Thật Sát Hải à? Chúng ta có thể đến đó đi dạo.”
Sống ở đây lâu ngày, giờ tan làm của Sa Thuỵ Kim được rút ngắn đáng kể, mấy thư ký của ông đều cảm nhận rõ nhất điều này.
Hai người họ đã quen với việc thỉnh thoảng ra ngoài đi dạo. Cuộc sống của Sa Thuỵ Kim rất giản dị, ít nhất thì Cố Tư Vũ chưa từng thấy ông vơ vét tiền bạc hay chạy sang Hồng Kông, nước ngoài để hưởng thụ.
Một ngày nọ, Cố Tư Vũ ngồi thẫn thờ trước bàn làm việc, đến khi tỉnh táo lại mới nhận ra mình đã vô thức viết một câu thế này:
Có lẽ vì xuất thân quá đỗi hàn vi, Sa Thuỵ Kim không có thú vui nào được gọi là “cao sang”. Ông chỉ thích những phương thức thư giãn nguyên sơ nhất, như vận động hay phụ nữ. Nhưng hiển nhiên ông còn cách rất xa danh xưng kẻ háo sắc.
Ý thức được mình vừa viết gì, cô vội vàng dùng bút gạch bỏ.
Thứ Sáu, Cố Tư Vũ thức dậy từ sớm, tâm trạng rất phấn chấn. Cô trò chuyện với nhân viên phục vụ trong căn bếp nhỏ một lúc, nhắc đến việc tối nay mình sẽ ăn ngoài, còn Sa Thuỵ Kim cũng về muộn nên có thể sẽ dùng bữa trên đường.
Đầu bếp đang rưới nước tương lên món trứng hấp, nghe thấy vậy thì đáp rằng lãnh đạo đã báo trước rồi.
Cố Tư Vũ bưng bát cơm, vừa ăn vừa kiểm tra hòm thư điện tử. Một tạp chí vừa gửi đến “Thông báo sử dụng bản thảo”, đó là bài nghiên cứu mà cô nộp cách đây ba tháng, dự kiến nửa năm nữa sẽ được đăng.
Cô bước ra khoảng sân nhỏ hít hà không khí lạnh buốt buổi sáng, thầm nhủ mình lại tiến gần thêm một bước đến việc vượt qua kỳ đánh giá ba năm. Cô muốn bản thân xứng đáng với công việc, con đường và cả cuộc sống mà mình đã chọn.
Trưa hôm đó, Cố Tư Vũ đi tàu điện ngầm đến trường. Buổi chiều, cô tham dự tiết học về lịch sử tôn giáo do thầy Trần giảng dạy, sau đó cùng vài sinh viên đến nhà hàng cao cấp trong khuôn viên trường.
Trên đường, thầy Trần thuận miệng than phiền với Cố Tư Vũ: “Từ khi đoàn thanh tra đến trường mình, Đỉnh Duyệt vắng hẳn đi.”
Đỉnh Nguyệt là nhà hàng thương mại cao cấp của Đại học Y, thường ngày là nơi lãnh đạo nhà trường tụ tập hoặc tổ chức tiệc chiêu đãi cho hội nghị khoa học.
“Chuyện tiệc tùng đều có quy định cả.” Cố Tư Vũ ở bên Sa Thuỵ Kim lâu ngày, nghe nhiều nên cũng khá am hiểu, “Hiện nay không cho phép tổ chức tiệc chiêu đãi. Thậm chí quy mô bữa ăn cho từng cấp bậc cũng có quy định rõ ràng.”
Thầy Trần bật cười, nhưng vẻ mặt lại hiện rõ sự bất mãn: “Thế này chẳng phải là làm khó nhau sao? Các thầy cô từ nơi khác đến, chẳng lẽ lại không mời người ta được một bữa cơm tươm tất ư?”
Cố Tư Vũ thầm nghĩ, ông chỉ cần không động đến kinh phí nghiên cứu, tự móc tiền ra mời khách thì ai thèm cấm cản. Nghĩ vậy nhưng ngoài mặt cô chỉ cười xoà cho qua.
Hứa Quan đến nhà hàng sớm nửa tiếng để gọi món, lúc này đang xách mấy chai nước trái cây to đùng. Tình cờ gặp mọi người trong thang máy, anh ta mỉm cười chào thầy Trần, rồi quay sang chào hỏi Cố Tư Vũ: “Cô giáo tiểu Cố.”
Một cô em khoá dưới thấy vậy thì trêu: “Sao đàn anh không chào bọn em nữa, thế là không công bằng rồi!”
Xung quanh lập tức vang lên một tràng cười, mấy người khác cũng hùa theo. Cô em khóa dưới kia thân quen với cả Hứa Quan và Cố Tư Vũ, nên Cố Tư Vũ nghe là biết cô ấy không có ác ý gì.
Vào bàn tiệc, Cố Tư Vũ tự nhiên ngồi xuống vị trí dành cho khách chính, ngay bên phải thầy Trần. Cô và thầy hướng dẫn thạc sĩ Trương Chí Phong hiện vẫn là đồng nghiệp, cũng không có hiềm khích gì nên thỉnh thoảng vẫn liên lạc.
Có một lần, cô trở về Đại học Chính trị và Pháp luật tham dự hội thảo khoa học. Sau buổi tiệc chiêu đãi trưa ngày bế mạc hội nghị, thầy Trương đã gọi cô và mấy học trò đã tốt nghiệp lại trò chuyện thêm một lúc.
Khi ấy, Cố Tư Vũ cũng ngồi ở đúng vị trí này.
Khách qua mà nói, thầy Trương chưa làm ra hành động gì quá mức xấu xa, mà chỉ là không phải một người thầy tốt. Cố Tư Vũ hiểu điều này, và có lẽ Sa Thuỵ Kim cũng vậy.
Ông từng chứng kiến và trải qua quá nhiều chuyện, gặp gỡ quá nhiều người, nên mức độ “xấu” của thầy Trương có lẽ chưa đủ để có thể khiến ông nảy sinh cảm xúc dư thừa.
Những năm gần đây, thầy Trương Chí Phong hành xử rất thận trọng. Dù vẫn là giáo sư của một trường 985, nhưng cuộc sống của ông ở Đại học Chính trị và Pháp luật không mấy dễ dàng. Sau lần đó, mối quan hệ giữa ông và các đồng nghiệp dần trở nên xa cách. Việc thăng tiến bị chặn đứng từ mười năm về trước, những năm qua tuy ông vẫn đăng bài và xuất bản sách, nhưng tất cả đều chẳng có gì nổi bật.
Cố Tư Vũ không hỏi đến những chuyện này, nên không rõ rốt cuộc là do năng lực của thầy Trương thực sự chỉ đến vậy, đã cạn kiệt ý tưởng, hay còn có ẩn tình nào khác.
Cô chỉ biết rằng, để hạ bệ một giáo sư đại học thì chỉ cần một vị lãnh đạo cấp khoa là đủ. Cấu trúc giai tầng xã hội tại Trung Quốc đã tạo ra một mảnh đất màu mỡ cho những tư tưởng như “lấy quan làm gốc” hay “lấy quyền lực làm trung tâm” tồn tại và phát triển hưng thịnh.
