Trăng tàn cong như lưỡi câu, lơ lửng treo trên ngọn liễu. Dưới ánh trăng thưa nhạt, sông lớn trải dài tựa dải lụa.
Tháng hai năm Sóc Khang thứ mười một, lớp băng mỏng nơi bờ bắc Kim Giang tan rã, nước sông dâng lên, rốt cuộc hòa làm một với dòng nước phương Nam bốn mùa chẳng đóng băng.
Gió lướt qua, sóng nước chồng chất như tuyết, lớp sau cao hơn lớp trước, tiếng sóng vỗ vào bờ tựa như muốn gõ nát lục phủ ngũ tạng, người nghe không khỏi kinh hồn. Dưới màn sương mỏng khói nhạt, thành Dương Châu bốn phía vang dậy tiếng triều. Song chẳng thấy binh giáp kéo đến, cũng không có binh giáp vây thành, chỉ thấy chủ nhân đất Kiến Nghiệp là Lưu Trọng Phù đứng trên đầu thành, lặng lẽ nhìn về phương Tây.
Phía Tây là Kinh Châu, qua nữa chính là Ích Châu.
Nước Kim Giang dâng lên, sớm muộn cũng thấm ướt ruộng đất hai châu Kinh, Ích. Chỉ vì gió đã ngừng ở phương Tây, nên nơi ấy chưa từng thấy sóng lớn kinh tâm, triều lên triều xuống. Nhưng Ích Châu tuy không có triều thanh chấn động lòng người, song binh lâm thành hạ đã thành sự thực.
Đêm tối bị ánh lửa trại của đại doanh Đông Cốc chiếu sáng, trăng tàn liền trốn sau mây, né tránh sát khí lạnh lẽo.
Từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, tiếng sóng vừa dứt, binh giáp đã khởi.
Trong kế hoạch Nam phạt, việc công phạt hai châu Dương, Giao dưới tay Lưu Trọng Phù vốn được bàn thảo nhiều nhất. Hơn nữa, từ tháng hai đến tháng năm năm Sóc Khang thứ mười, giao chiến tại Quán Lưu Hồ cùng Đông Cốc quân đều là thế lực của Lưu Trọng Phù; nơi Đông Cốc quân phái người dò xét tin tức cũng là Dương Châu; những tử sĩ bản địa được đánh thức cũng xuất phát từ Kiến Nghiệp của Dương Châu.
Bất kỳ ai cũng cho rằng Lận Tắc xuất binh tất sẽ đánh vào Lưu Trọng Phù ở Kiến Nghiệp. Bởi lẽ một khi hạ được Lưu Trọng Phù, chư hầu còn lại đều chẳng đáng ngại, ắt sẽ lần lượt quy phục. Chỉ là công phạt Lưu Trọng Phù đâu phải việc dễ. Đông Cốc quân của Lận Tắc một là viễn chinh, vốn là thế công, hai là tuy Đông Cốc quân đã được huấn luyện thủy quân chuyên biệt, song đối diện vẫn là thủy sư do ba đời Lưu thị chuyên tâm bồi dưỡng. Dẫu trải qua nhiều lần suy diễn có phần thắng, thì binh giáp tổn thất tất khó tránh khỏi.
Trong thành bại của một cuộc chiến, cái gọi là "tổn thất" — năm trăm, một nghìn, hai vạn... chẳng qua chỉ là những con số lạnh lẽo. Nhưng bọn họ đều là con người, là phu quân, là phụ thân, đối với những kẻ chờ đợi họ, đó là sinh mệnh nóng hổi, là mái nhà tranh, là cột trụ của đại đường.
Lận Tắc xem qua mấy phương án, trong lòng luôn không nỡ.
Cuối cùng, khi đến Quán Lưu Hồ vào tháng hai năm trước, hắn đã nêu dị nghị. Sau đó qua những cuộc mật hội, bày ra thế cục này: giả công Dương Châu, chủ công Ích Châu. Hắn muốn lấy Ích Châu làm căn cứ để cùng Lưu Trọng Phù đánh trận công kiên, tận lực giảm thiểu thương vong. Đợi khi chiếm được Ích Châu, sự chênh lệch giữa bộ binh và thủy sư liền không còn, trái lại, kẻ phải e sợ kỵ binh sắt thép của Đông Cốc quân chính là Lưu Trọng Phù. Dĩ nhiên, kết cục tốt nhất vẫn là Lưu Trọng Phù không đánh mà hàng. Đã chinh chiến hơn mười năm, đáng để nhiều người nhìn thấy ánh rạng đông, thay vì chết trước bình minh.
Vì vậy cuối tháng sáu năm trước, Lận Duệ làm tiên phong, Lận Thử và Thừa Minh giữ chức phó tướng, dẫn một vạn binh giáp vượt sông trước, chiếm cứ các yếu địa ven bờ Ích Châu, để tiện tiếp dẫn đại quân theo sau.
Đến ngày mồng tám tháng bảy, cái gọi là chiến dịch vượt sông toàn diện thực chất chỉ mới xuất bốn vạn binh giáp, đội hình trôi nổi trên mặt nước. Trong đó có hai trăm thuyền nhẹ, mỗi thuyền chở năm mươi binh sĩ, lao nhanh về Dương Châu, tiến hành nghi binh dọc bờ, mục đích chính là che chở cho bốn vạn binh giáp vượt sang Ích Châu ở hướng tây nam.
Khiến Ô Thiện của Ích Châu không kịp cầu viện, Lưu Trọng Phù cũng không thể tăng binh cứu ứng.
Quả nhiên, Dương Châu vốn đã nghiêm trận chờ sẵn liền dốc toàn lực phòng thủ phản kích. Một vạn Đông Cốc quân trên hai trăm thuyền nhẹ liều chết quần thảo, nước biếc ven bờ Dương Châu nhuốm đỏ. Mãi đến ngày thứ sáu, khi tướng lĩnh chỉ huy thuyền nhẹ nhận được quân báo rằng bốn vạn binh giáp đã toàn bộ tiến vào thủy vực Ích Châu mới dẫn quân rút lui.
Trận này thuyền nhẹ dựa vào ưu thế cơ động mau lẹ, lấy cái giá một đổi năm về thương vong, thành công che chở cho quân chủ lực tiến sang phía tây. Đợi khi khói lửa trên sông tan đi, Lưu Trọng Phù lại giữ thêm ba ngày, chỉ thấy mặt sông phẳng lặng như gương, Đông Cốc quân đến bóng dáng cũng chẳng còn. Nhưng trong tay y, quân báo lại ghi rõ rành rành: Ích Châu đã bị vây, cầu xin cứu viện. Song hiển nhiên đã quá muộn — bốn vạn binh giáp đều đã lên bờ, còn ở Quán Lưu Hồ, mười mấy vạn đại quân đang hổ thị dòm chừng.
Lưu Trọng Phù chuẩn bị chiến sự đã lâu, lại bị sự thay đổi đột ngột của Lận Tắc làm đảo loạn kế hoạch, tinh thần còn bị những chiếc thuyền nhẹ thần xuất quỷ một dọa cho chấn động. Trước mắt chỉ còn biết dốc sức củng cố phòng tuyến Dương Châu, cự tuyệt cứu viện. Mấy tháng liền cứ thế do dự bất quyết, đứng nhìn về phía tây xa xăm. Thỉnh thoảng mới để lộ đôi phần lơi lỏng.
Đến đầu tháng tám, bốn vạn Đông Cốc quân lên đất Ích Châu, ban đầu thế như chẻ tre, chỉ hơn hai tháng đã áp sát quận Quảng Đô nơi Ô Thiện trấn giữ, đầu tháng mười một bắt đầu vây thành. Ô Thiện không giỏi công phạt, song lại là tay giữ thành lão luyện, mấy tháng liền không xuất chiến, chỉ chăm chăm gia cố thành phòng, vậy mà trụ được hơn hai tháng, cầm cự đến tháng giêng năm Sóc Khang thứ mười một. Lận Tắc bèn tăng thêm hai vạn binh vượt sông, sai Mông Lãng quét sạch tàn bộ của y, thu gom lương thảo, chuyển cung ứng cho Đông Cốc quân đang vây thành. Cục diện đến bước này, phá thành vốn chỉ là chuyện sớm muộn. Thế nhưng không ngờ hơn một tháng trôi qua, thành trì vẫn chưa hạ, cũng chẳng thấy thư hàng của Ô Thiện.
"Ô Thiện làm vậy, ý tứ đã rõ ràng, cố ý tiêu hao lương thảo của ta, nghĩ rằng chúng ta viễn chinh vượt sông, tất lương thực thiếu thốn, mong chúng ta tự lui binh."
"Ban đầu còn tưởng hắn sẽ dâng thành quy hàng, để giảm bớt thương vong, nay xem ra hắn đã quyết tâm chiến đến cùng."
"Nếu đã thế, còn chờ gì nữa! Dẫu rằng mười thì vây, năm thì đánh, nay binh lực của ta gấp ba hắn, dù có thảm liệt gian nan, công thành vẫn có hy vọng."
Trong đại trướng, chư tướng nghị bàn, sôi nổi yêu cầu xuất binh công thành.
"Nhưng Thừa Minh tướng quân còn ở trong thành, nếu lúc này công thành, e rằng tướng quân tất phải bỏ mạng." Trong khoảnh khắc trầm mặc, một tướng đưa mắt nhìn Lận Thử, trong mắt lộ vẻ bất mãn.
Cuối tháng sáu năm trước, vốn là Thừa Minh phụng mệnh của tiên phong Lận Duệ dẫn hai nghìn binh giáp lén đổ bộ trước tiên. Vì phía trước cần mê hoặc Lưu Trọng Phù, lại sợ đánh rắn động cỏ, nên những ám tử tử sĩ tại Ích Châu đều chưa bị đánh thức. Nhiệm vụ của Thừa Minh là vào thành Quảng Đô liên lạc với bọn họ, trong ngoài phối hợp, để khi công thành giảm thiểu thương vong.
Mọi việc vốn đều tiến hành theo kế hoạch. Sau khi hắn dẫn quân lên bờ, tất nhiên gặp phải chặn giết. Nhưng quân của Lận Duệ theo sau, cùng chủ lực bốn vạn binh giáp xuôi dòng tiến xuống, đã giúp hắn chuyển dời tầm mắt đối phương. Hắn cũng không phụ kỳ vọng, dẫn năm trăm tinh nhuệ còn lại chia nhỏ đội ngũ, thành công lẩn vào thành Quảng Đô.
Từ tháng tám năm trước ẩn núp cho đến tháng giêng năm nay, gần năm tháng trời, cuối cùng cũng mua chuộc được vài binh sĩ giữ thành, nắm rõ tình hình sáu cửa thành Quảng Đô, gồm cả thời điểm thay ca hay quân số. Vì vậy bảy ngày trước, chuẩn bị truyền tin ra ngoài. Do việc hệ trọng, chính hắn tự mình đưa đi. Nhưng từ ngoại ô đến trong thành Quảng Đô, các trạm gác đã được dựng khắp nơi, kiểm soát nghiêm ngặt; giọng nói của họ lại quá dễ bị nhận ra. Lận Duệ bèn sắp xếp Lận Thử dẫn binh tiếp ứng, đề phòng vạn nhất.
Biến cố chính là xảy ra vào lúc này.
Mông Lãng dẫn binh tới viện trợ, có bào đệ Mông Hoán, cùng tộc đệ Mông Huyên đi theo. Nghe nói phải tiếp ứng Thừa Minh, hai người liền xin xung phong. Theo quân lệnh, Lận Duệ đã chỉ định Lận Thử, lẽ ra việc này tất phải do hắn đảm trách, dùng người dưới trướng mình. Những kẻ khác chưa được lệnh đều phải án binh bất động, chờ đợi mệnh lệnh kế tiếp.
Thế nhưng hai người được Mông Lãng ngầm tỏ ý muốn lập thêm quân công, bèn nhiều lần thỉnh cầu Lận Thử, xin được cùng đi.
Lận Thử đẩy mãi không xong, thầm nghĩ dù sao cũng chỉ là việc tiếp ứng, chẳng có gì khó khăn. Đến lúc gặp binh giáp Ích Châu giao chiến, hắn chỉ cần tận tâm thêm chút, đánh đối phương thành nửa sống nửa chết, rồi đem thủ cấp "cho" bọn họ là được.
Chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ, dù bên Lận Duệ có muốn trách phạt, xét theo công đầu người, ắt cũng là công lớn hơn tội. Huống chi nể mặt hắn, đường huynh hẳn cũng sẽ không truy cứu nhiều.
Song nhớ đến tính tình cương trực của Lận Duệ, nghĩ đi nghĩ lại, Lận Thử vẫn báo cho hắn một tiếng, nhưng cũng chẳng nói rõ ràng, chỉ nói bộ tướng dưới trướng mình thân thể không khỏe, muốn điều hai người từ chỗ Mông Lãng sang.
Lận Duệ thấy hắn chinh chiến trăm trận, việc chọn người ra trận tất có con mắt riêng, liền trực tiếp đồng ý.
Đó là đêm hai mươi sáu tháng Giêng, vừa quá giờ Sửu, Lận Thử dẫn Mông Hoán và Mông Huyên, mỗi người lĩnh năm trăm binh giáp phục sẵn bên đường ngoại ô. Từ xa có thể thấy nơi Tây Lâm môn phía Tây thành vốn là chỗ đổ nát nhất nay cũng đã thêm lính canh.
Đêm ấy trời đen gió lạnh, cỏ khô đẫm sương, cả đoàn đợi quá nửa canh giờ. Cuối cùng trông thấy mấy người mặc dạ hành từ bức tường phía tây thò đầu ra, song không tiến thêm, kẻ dẫn đầu dường như đang dặn dò điều gì.
Mông Hoán từng gặp Thừa Minh nhiều lần, quen với hình vóc của hắn, nhìn thoáng qua đã thấy na ná, lại thấy bọn họ động tác tuy nhỏ nhưng đầy vẻ dò đường cẩn trọng, liền bật một tiếng huýt sáo truyền tín. Mông Huyên theo sát đứng dậy, đánh lửa đá, chỉ lóe lên một tia sáng liền làm thủ thế, rồi lập tức dập tắt ánh lửa.
Đám người kia hiển nhiên đã nghe thấy cũng trông thấy, song không chạy về phía này, trái lại quay đầu bỏ chạy theo hướng ngược lại. Vốn dĩ động tĩnh nơi đây chưa đủ để kinh động quân giữ thành, chính phản ứng đột ngột của bọn họ khi bị kinh động mới dẫn đến việc quân Ích Châu trong thành truy kích.
"Thừa Minh sao lại không đi về phía này?" Mông Hoán kinh hãi, "Hắn rõ ràng đã nhìn thấy."
"Tựa hồ không phải Thừa Minh."
"Giờ này ngoài hắn ra còn ai?"
Mông Hoán và Mông Huyên liên tiếp lên tiếng, nhất thời không biết xử trí ra sao.
"Cứu người trước đã." Lận Thử quát khẽ, phất tay hạ lệnh xuất binh.
Bản thân hắn đứng cách đó không xa quan sát giao chiến, chốc lát liền nhận ra manh mối: đám người trong đêm đen quả thật không phải Thừa Minh, bọn họ không ham chiến, chỉ cốt thoát thân đoạt lối mà đi. Thấy trong thành lại có thêm binh giáp kéo ra, Lận Thử đành truyền lệnh thu binh hồi doanh.
Một phen náo loạn này chẳng những không tiếp ứng được cho Thừa Minh, cũng không thu được tình hình trong thành, mà còn hoàn toàn kinh động Ô Thiện, khiến hắn càng thêm đề phòng. Mấy ngày sau đó, trong thành Ích Châu liên tục nghiêm tra đám hắc y đêm ấy, lo sợ vẫn còn kẻ tiềm ẩn. Cổng thành đã bị phong tỏa triệt để, căn bản không thể ra vào.
Ngày hôm sau sự việc xảy ra, Ô Thiện lại đích thân lên đầu thành lớn tiếng tuyên bố: "Đông Cốc quân hoặc là rút khỏi Ích Châu, bằng không đến ngày quyết chiến, ta sẽ lấy phó tướng Thừa Minh của các ngươi để tế cờ!"
Sau đó lại có sứ giả dâng thư, nói rằng chỉ cần Đông Cốc quân lui binh, sẽ lập tức hộ tống Thừa Minh về Quán Lưu Hồ.
"Tiểu tướng cho rằng, Thừa Minh tướng quân chưa chắc đã rơi vào tay Ô Thiện. Nếu hắn thực sự bắt được Thừa Minh, sao không trói lên thành lâu cho mọi người thấy? Chúng ta vẫn nên đợi tin tức của tướng quân rồi hãy tính."
"Nhưng nếu Thừa Minh tướng quân chưa bị bắt, Ô Thiện sao lại biết tên họ của hắn? Ắt là đã bị bắt và chịu hình rồi!"
"Nếu suy đoán như vậy, chẳng lẽ Thừa Minh đã..." Vị tướng tiếp lời liếc nhìn Giang Hạo ngồi một bên, chợt khựng lại, không nói tiếp.
Ý tứ của hắn mọi người đều rõ.
E rằng Thừa Minh đã chết dưới tay Ô Thiện, nên Ô Thiện mới biết tên mà không giao được người.
Trong chốc lát, Lận Thử cũng tự thẹn không thôi. Nếu không phải hắn biết rõ Mông Hoán, Mông Huyên trầm ổn không đủ, lại ham công mạo tiến mà vẫn tiếp tục dùng họ, cục diện cũng chẳng đến nỗi này.
"Chủ yếu là đêm ấy lại xuất hiện thế lực thứ ba, thật không ngờ trùng hợp đến vậy." Hắn thở dài, yếu ớt biện bạch.
"Thôi, lúc này nói nhiều cũng vô ích." Giang Hạo đứng dậy bước đến trước sa bàn, "Thừa Minh dù sống hay chết cũng không đủ để lay động đại cục. Chúng ta vẫn nên bàn chiến sự là trọng!"
Đó là học trò ông yêu quý nhất, năm xưa cứu ra khỏi lao ngục, nay lại mang theo bên mình chinh chiến, vốn là người sẽ kế thừa y bát của ông.
"Vậy theo ý Lệnh quân, vẫn là chủ trương công thành?" Lận Duệ hỏi.
"Mấy vạn binh giáp vượt sông mà đến, đã binh lâm thành hạ, há có đạo lý lui binh." Giang Hạo khép mắt lại.
Tình cảnh của Thừa Minh không ngoài ba khả năng.
Một là đã chết, vậy dĩ nhiên nên khởi binh.
Hai là chưa chết, còn trong tay Ô Thiện, lúc này nếu công thành, hắn ắt lập tức mất mạng, do đó không nên đánh.
Ba là hắn vẫn tự do, ẩn trong thành chờ cứu viện, như vậy càng nên khởi binh.
Nhưng lương thảo đang hao tổn, sĩ khí ngày một suy giảm, nếu kéo dài thêm, e rằng Lưu Trọng Phù cũng sẽ phái binh tiếp viện, đến khi ấy hai mặt giáp công, tiến thoái lưỡng nan.
Ban đầu vốn muốn đợi Ô Thiện đầu hàng, hoặc chờ Thừa Minh đưa tin ra, để giảm bớt hy sinh. Nay xem ra — ông cũng không nhịn được liếc về phía Lận Thử, người đã chọn nhân thủ, quả thực là công dã tràng.
Sớm biết như vậy, chi bằng đừng để Thừa Minh tiềm nhập nội thành, trực tiếp khởi binh công thành, cũng không đến nỗi liên lụy tính mạng của hắn!
"Ý ta là, ba ngày sau công thành." Giang Hạo lại mở lời, rốt cuộc vẫn không nỡ tính mạng đệ tử, còn muốn cầu một phần vạn nhất, bèn đưa ra phương án trung dung.
Bài binh bố trận, điều binh khiển tướng, ắt cần thời gian. Với danh tướng như Lận Duệ, nhiều lắm nửa ngày đã có thể sắp xếp thỏa đáng. Song Lận Duệ hiểu rõ dụng ý của Giang Hạo, nên cũng tán thành.
Không ngờ, đúng vào lúc tan họp, ngoài trướng bỗng thấy ánh trời lóe lên. Nhưng khi mọi người bước ra, lại thấy trời vẫn tối, chẳng phải sấm sét chớp giật, đang nghi hoặc thì nghe một tiếng vang.
Mọi người theo tiếng mà đoán ánh sáng đều phát ra từ thành Quảng Đô.
Đang lúc nín thở, bỗng lại thấy ánh sáng bừng lên. Định thần nhìn kỹ, hóa ra là minh địch.
Ngay sau đó liên tiếp năm tiếng, kèm theo năm sắc.
"Là hiệu 'công'." Một phó tướng sực tỉnh, "Là tín hiệu của ám vệ Đông Cốc quân yêu cầu công phạt."
"Năm tiếng năm sắc..." Lận Duệ lẩm bẩm. Hắn đương nhiên nhận ra tín hiệu, trong khoảnh khắc tinh thần phấn chấn, lập tức chỉnh hợp tam quân.
Trong thành Quảng Đô ấy là Thừa Minh được ăn cả ngã về không.
Y không rơi vào tay Ô Thiện. Đêm ấy, y vốn đã gần tới chân tường Tây Lâm môn, lại phát hiện một toán hắc y khác, chính là tử sĩ do Hà Dục dẫn đầu. Vì không rõ Đông Cốc quân tiếp ứng ở đâu, cũng chẳng biết bên Hà Dục rốt cuộc có bao nhiêu người, y bèn chần chừ giây lát, định vòng sang cửa tây bắc mà ra.
Không ngờ vừa quay người bước được hai bước liền nghe tiếng giao chiến bên ngoài, đồng thời trong thành binh giáp ào ra, cửa thành lập tức phong tỏa, y hoàn toàn bị vây khốn bên trong. Càng khiến y lo lắng hơn là Hà Dục đã tung tin về y, muốn bức y lộ diện. Ô Thiện lại là kẻ hành sự như vậy, y phải trốn tránh trong thành suốt bảy ngày. Trong bảy ngày ấy, tuy đã tụ họp được một phần binh sĩ vốn tản mác, nhưng rốt cuộc vẫn không có đường thoát. Con đường duy nhất chính là chờ Đông Cốc quân công thành.
Không có tình hình cụ thể trong nội thành, công thành tất sẽ là một trận ác chiến.
Thừa Minh nghĩ đi nghĩ lại, ánh mắt dừng trên Tây Lâm môn. Trong tay y lúc này có hơn hai trăm binh sĩ, đều là tinh nhuệ của Đông Cốc quân, muốn san bằng thành Quảng Đô dĩ nhiên là khó, nhưng nếu tập trung binh lực từ bên trong đánh ra, chiếm lấy một Tây Lâm môn thì hẳn không phải việc khó.
Nơi đây cách đại doanh Đông Cốc quân chưa đầy ba mươi dặm. Với cước trình đại quân, vừa nhận tín hiệu, chỉnh đốn tam quân, chỉ cần nửa nén hương là có thể tới nơi.
So với việc nghĩ cách xuất thành, thoát khỏi truy binh, đoạt ngựa chạy trọn ba mươi dặm, giữ mạng đem tin trở về, chi bằng dẫn đại quân trực tiếp kéo tới. Như vậy tin tức đã được đưa ra, cũng chẳng cần lo truy binh. Tam quân công thành chỉ trong khoảnh khắc.
Đêm đã tàn, ngũ sắc minh địch đã nổ tung trên không trung.
Viên thủ tướng canh giữ lầu thành Tây Lâm môn đứng trên bậc thềm vòng trong, không dám tin nhìn kẻ đang ở trong thành. Ánh mắt y lóe lên, tựa như nhớ đến việc mấy ngày nay trong thành giới nghiêm truy lùng bắt người.
Song chưa kịp phản ứng, thanh niên dưới thành đã mượn lực tường trong bật người mà lên, mấy lần đã tới lầu thành. Trong tay y cầm một thanh đoản kiếm đồng xanh, đầu kiếm đã nhỏ xuống máu tươi của địch tướng.
Theo động tác y rút kiếm xuất thủ, binh giáp bốn phía ào ào tràn ra, đồng loạt xông lên lầu thành chém giết.
Họ chỉ cần cầm cự nửa nén hương.
Quân thủ Tây Lâm môn đúng một ngàn người, song nửa đêm bị tập kích, kẻ đến ai nấy giết người như chém dưa, chẳng mấy chốc đã giải quyết quá nửa. Người của Thừa Minh nhân cơ hội xông ra được hai kẻ, nhưng đều trúng tên, chết dưới chân thành.
"Đại tướng quân, cấm quân trong thành sắp tới rồi." Có người nhắc nhở, muốn y rút đi trước.
Đoản kiếm trong tay y rút ra khỏi một lồng ngực, ánh mắt lướt qua thi thể dưới thành, "Có cung thủ, không thoát được đâu. Người của chúng ta cũng sắp tới, cố thêm một lát."
Chốc lát sau, lại thêm từng đống thi thể chồng chất như núi. Y bào của Thừa Minh thấm đẫm máu, dần dần cũng kiệt sức. Thuộc hạ bẩm báo, họ đã thương vong hơn ba mươi người.
Thừa Minh thở gấp, gật đầu, "Địch chết bị thương đã quá nửa, nhưng vẫn còn hơn mười cung thủ, giải quyết hết. Chuẩn bị lần nữa, đưa người ra thành."
"Đại tướng quân, ngài ra ngoài đi, để ngài đi đưa tin!"
"Kế hoạch do ta định, trận chiến này do ta mở, quyết không rời trận." Y đã tự tay quyết định vận mệnh của những người này, nếu còn cơ hội sống, tự nhiên không thể lại tước đoạt.
Thời gian từng giọt trôi qua, nửa nén hương vốn định hôm nay lại dài dằng dặc đến lạ.
Khi cấm quân trong thành kéo đến tiếp viện, toán cung thủ nơi đây vừa hay bị giết sạch. Thừa Minh dẫn người từ trên cao nhìn xuống, một mặt chọn người mang tin rời đi, một mặt hạ lệnh bắn tên.
Tên bắn hết, dây cung đứt, lại có một toán binh giáp khác xông lên thành. Thừa Minh hất vạt áo làm ám khí, chém giết binh sĩ áp sát, rồi ra lệnh cho hơn trăm người còn lại bên mình: theo sắp xếp trước đó chọn ra hai mươi người, trực tiếp mang tin nhảy xuống từ tường thành, số còn lại chia làm hai, một nửa xuống dưới lầu chặn cửa thành, không cho quân trong thành mở cửa truy kích, nửa còn lại theo y giữ lầu thành, không cho cung thủ phía sau trèo lên.
Rốt cuộc thế ít không địch nổi đông, người của Thừa Minh từng kẻ một ngã xuống. Chính y cũng bị đao phủ gia thân, máu me đầm đìa, mắt thấy lầu thành sắp không giữ nổi, Thừa Minh quỳ trên đất, chống kiếm th* d*c.
Chợt nghe tiếng thiết kỵ chấn động, như núi đổ biển trào mà tới.
Thừa Minh đứng dậy, chẳng cần ngoái đầu cũng biết là Đông Cốc quân, mà binh sĩ mang theo thư tín đã được đại quân đón lấy, hòa vào rừng rậm binh giáp.
"Mở cửa thành, chúng ta đi!"
Y quát lớn.
Những tướng sĩ dưới lầu vốn hiểu kế hoạch của y không còn cố chấp liều chết, nông nỗi lại ham chiến. Quân thủ trong thành không hiểu dụng ý, tâm trí vẫn đặt ở việc mở cửa thành đuổi theo kẻ đã thoát ra báo tin.
Lại nghe ba chữ "mở cửa thành", bọn họ không chút do dự mở Tây Lâm môn.
Nhưng khi cổng thành vừa mở, từ lầu thành nhảy xuống là một thanh niên như Tu La tắm máu, tay cầm trường kiếm còn nhỏ máu, lạnh lẽo khó lường đứng trước cửa thành, phía sau y là thiên quân vạn mã đang công thành.
Phía đông chân trời lộ ra tia sáng đầu tiên của bình minh. Tiếng binh khí va chạm, tiếng ngựa hí, tiếng chiến sĩ hò reo vang dội bốn bề, mà thế giới của y lại tĩnh lặng đến lạ.
Y nhớ đến buổi hoàng hôn năm ấy, có một nữ lang nói với y: "Chữ 'Minh', là nhật nguyệt hợp thành, quang chiếu thiên hạ, thực là rất tốt. Cô ban chữ 'Minh' này cho ngươi, được chăng?"
Lại nhớ đến hoàng hôn không lâu trước đây, có thanh niên trao kiếm cho y, nói: "... Mong ngươi có thể như ta, được vận mệnh ưu ái."
Y quả là may mắn biết bao!
