Vào cuối tháng một, danh sách thí sinh vượt qua vòng sơ tuyển bậc tiến sĩ của Đại học Chính trị và Pháp luật được đăng tải công khai trên website chính thức của trường trong vòng hai tuần.
Khi nhìn thấy tên mình nằm trong danh sách, tôi thở phào nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong lòng cuối cùng cũng được gỡ xuống. Chuyện này đối với Bí thư Tỉnh ủy chẳng đáng là gì, xét về mặt logic, tôi tin rằng Sa Thụy Kim sẽ không rút lại mấy ân huệ nhỏ nhặt như vậy. Song, trước khi danh sách được công bố, tôi vẫn cảm thấy thấp thỏm không yên.
“Màn kịch chia tay” giữa tôi và Sa Thụy Kim nhìn thì có vẻ ầm ĩ, nhưng thật ra chỉ như vài gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, rất nhanh sau đó đã lắng xuống.
Thông qua chuyện này, tôi đã hiểu được thái độ của Sa Thụy Kim: bất kể là ông thật sự yêu mến tôi, hay đơn thuần cảm thấy không vui khi quyền uy bị thách thức, hoặc đơn giản là vì vẫn chưa chán ngấy thân thể tôi, thì tóm lại, tôi không có tư cách chấm dứt mối quan hệ này mà chỉ có thể chờ đến ngày ông chủ động lên tiếng.
Thành thật mà nói, khi đánh mất quyền chủ động trong mối quan hệ này, tôi lại cảm thấy nhẹ nhõm phần nào, dường như gánh nặng đạo đức đè nặng trên vai cũng theo đó vơi bớt đi.
Tôi không còn tâm trí để nghĩ ngợi về mối quan hệ giữa mình và Sa Thụy Kim, bởi đã bắt đầu bước vào giai đoạn ôn thi căng thẳng. Ngoài thời gian làm việc tại văn phòng, toàn bộ thời gian còn lại tôi đều dành để đọc tài liệu tham khảo.
Sáng hôm công bố danh sách sơ tuyển, tôi cứ phân vân không biết có nên nhắn tin cho Sa Thụy Kim để chia sẻ tin vui này hay không. Mãi đến giờ cơm tối, tôi mới gửi tin nhắn ấy đi.
Nội dung được tôi soạn một cách cẩn trọng, thể hiện niềm vui khi bản thân vượt qua vòng xét duyệt hồ sơ, đồng thời gửi lời cảm ơn đến Sa Thụy Kim vì sự tin tưởng và giúp đỡ của ông. Cuối cùng, tôi bày tỏ quyết tâm sẽ nỗ lực và tiến bộ hơn nữa để không phụ lòng tin của lãnh đạo.
Không lâu sau, Sa Thụy Kim nhắn lại cho tôi: “Chúc mừng Tư Vũ, cố gắng ôn thi cho tốt nhé.”
Tôi đang vui nên nhắn thêm một tin: “Vâng, em nhất định sẽ chuẩn bị thật tốt cho vòng phỏng vấn.”
Tôi cứ nghĩ Sa Thụy Kim không trả lời nữa, vậy mà ông đã nhắn lại: “Em đừng quá vất vả, mọi chuyện đã có tôi rồi.”
Khi nhìn thấy dòng tin nhắn ấy, tôi thoáng ngây người, ngón tay đang gõ bàn phím cũng khựng lại. Quả thật ông đã giữ lời, tin nhắn trả lời không còn lạnh nhạt như trước.
Một lúc lâu sau, tôi mới trả lời: “Vâng, cảm ơn ngài.”
Ông không nhắn lại nữa.
Tôi hiểu ý ông, bất kể tôi thể hiện ra sao thì cuối cùng chắc chắn vẫn sẽ được nhận. Nhưng nếu thật sự làm quá tệ thì người mất mặt sẽ chỉ là tôi.
Một đàn em làm việc ở học viện nắm bắt tin tức rất nhanh, mới được mấy hôm đã nhắn tin gửi tôi danh sách và hào hứng hỏi: “Chị Tư Vũ, đây là chị hả? Trời đất ơi, sao chị lại chuyển sang Viện Triết học vậy?”
Tôi chỉ cười trừ cho qua, nhưng cô em đó vẫn nhiệt tình hỏi tôi đã chọn giáo sư nào làm người hướng dẫn. Chuyện này không thể nói dối nên tôi đành trả lời thật, cố gắng giữ vẻ thản nhiên nhất có thể.
Thái độ cố tỏ ra bình tĩnh của tôi chẳng thể át đi sự kinh ngạc của cô em khóa dưới. Cô ấy lập tức gửi một tràng dấu chấm than và chấm hỏi: “Cái gì??? Giáo sự Vương ư??? Trời đất ơi, Giáo sư Vương!!! Vị giáo sư trong mơ của em!! Bà ấy nổi tiếng lắm đó chị Tư Vũ!!!”
Tin nhắn của cô ấy tới tấp gửi đến, hết hỏi cách thức liên hệ, cách nộp hồ sơ, làm sao để gây ấn tượng với giáo sư, rồi cuối cùng kết thúc bằng những lời ngưỡng mộ.
Tôi không biết phải trả lời ra sao, chẳng lẽ lại nói thẳng là tôi đã lên giường với Bí thư Tỉnh ủy và đây là đặc ân mà ông ấy ban cho sao? Vậy nên chỉ có thể cười trừ cho qua.
Tôi không chắc cô em đó có kể chuyện này với người khác hay không, nhưng nhìn chung chẳng ai nhắc đến nữa. Ngày tháng vẫn đều đặn trôi qua, vào cuối tháng Ba khi kỳ thi kết thúc, cô Vương gọi tôi đến văn phòng để gặp mặt. Cô là một người thầy rất hiền hậu, lúc nào trên môi cũng nở nụ cười thân thiện. Tôi vừa vào phòng đã được cô chia cho một hộp sôcôla to.
Đây là quà cô mang về sau chuyến sang Mỹ làm học giả nghiên cứu thời gian trước. Chúng tôi trò chuyện sơ qua về kế hoạch cho bốn năm nghiên cứu sinh, cô không nhắc đến chuyện “đi cửa sau” hay Sa Thụy Kim, điều này khiến tôi vô cùng biết ơn. Thậm chí cô còn khen đề tài luận văn thạc sĩ cũng như phần thể hiện trong kỳ thi vừa rồi của tôi.
Cuộc trò chuyện lần này diễn ra rất thoải mái. Giữa chừng, cô còn nói muốn cho tôi tham gia vào một dự án nhỏ mà cô đã xin được vào cuối năm ngoái. Nếu điều kiện cho phép, toàn bộ kinh phí dự án sẽ giao hết cho tôi toàn quyền sử dụng, cô chỉ đứng tên phụ trách.
Đây đúng là miếng bánh từ trên trời rơi xuống. Miếng bánh vừa to vừa nặng ấy đập trúng đầu khiến tôi choáng váng, mãi một lúc sau mới cảm thấy đau. Tôi phần nào trấn tĩnh lại, thành thật nói với giáo sư: “Thưa cô, dù sao em cũng học trái ngành, nền tảng còn yếu. Cô giao cho em cả một dự án thế này, em thật sự lo mình không đủ năng lực để gánh vác.”
“Có tôi hướng dẫn em cơ mà.” Cô nở nụ cười hiền hậu, còn tôi thì có phần bối rối.
“Nếu thấy không ổn, tôi sẽ tìm vài anh chị khóa trên đến làm cùng em, như vậy có được không?”
“Em xin nghe theo sự sắp xếp của cô. Trước mắt, em sẽ theo các anh chị làm quen với cách học và cách làm việc của nhóm nghiên cứu chúng ta, coi như củng cố nền tảng.”
Nụ cười của cô Vương lúc này càng thêm chân thành, tôi cũng theo đó mà thở phào nhẹ nhõm, cảm giác như mình vừa vượt qua một cuộc sát hạch.
Khi bước ra khỏi tòa nhà, một cơn gió thổi tới mang theo mùi hương của bùn đất và cỏ tươi. Đây chính là mùa xuân của Hán Đông.
Mọi thứ bề ngoài có vẻ yên ổn và đang chuyển biến theo chiều hương tốt, nhưng những dòng chảy ngầm dưới mặt nước phẳng lặng ấy mới là điều khiến tôi lo lắng hơn cả.
Có lẽ vì lớn lên trong một môi trường thiếu vắng tình thương nên tôi lúc nào cũng nhạy cảm một cách thái quá, hay lo nghĩ và không thích tâm sự với ai, giống như một con trai khép chặt vỏ để giữ kín bí mật của riêng mình.
Tôi vẫn giữ thói quen tìm kiếm tin tức về Sa Thụy Kim, để hiểu thêm về những khía cạnh mà tôi chưa từng được chứng kiến của ông.
Xét về tuổi tác, Sa Thụy Kim vẫn còn khác trẻ so với mặt bằng chung trong giới lãnh đạo cấp cao. Đặt vào cương vị người đứng đầu một tỉnh, ông thậm chí còn được xem là một cán bộ trẻ có năng lực.
Trên các diễn đàn chính trị, mỗi khi nhắc đến Sa Thụy Kim mọi người gần như đều có chung một nhận định: vị Bí thư Tỉnh ủy này rất có triển vọng, chắc chắn còn có thể tiến xa hơn nữa.
Tôi thích xem các video ghi lại cảnh ông xuất hiện và phát biểu tại các sự kiện. Sa Thụy Kim am hiểu đạo lý làm việc cần phải quyết liệt, còn làm người thì cần khiêm nhường.
Ông không nói lời hoa mỹ nhằm gây chú ý, mà lời lẽ luôn gần gũi, dễ hiểu và bám sát thực tiễn. Có thể thấy ông thực sự là một vị quan phụ mẫu của nhân dân Hán Đông. Những chính sách ông đưa ra cũng liên quan trực tiếp đến các vấn đề trọng yếu trong đời sống nhân dân, chứ không phải mấy dự án mang tính hình thức chỉ để lấy thành tích.
Đôi lúc, tôi cũng thấy hoang mang khi không sao hình dung được một cách tổng thể về con người Sa Thụy Kim. Thậm chí, tôi không thể kết nối những mặt khác nhau mà tôi từng thấy ở ông thành một thể thống nhất.
Nhưng tôi phải thừa nhận rằng Sa Thụy Kim là một chính khách tài ba thực thụ. Ông luôn giữ chừng mực trong cách đối nhân xử thế cũng như trong xử lý công việc, lúc nào cũng đánh trúng trọng tâm khiến người khác buộc phải tuân theo dù là cam tâm tình nguyện hay không còn lựa chọn nào khác. Giống như cách mà ông đã thu phục tôi.
Tôi hiểu rằng mình không thể đặt hết kỳ vọng vào Sa Thụy Kim. Dựa núi thì núi đổ, dựa người thì người đi. Bài học từ người thầy hướng dẫn vẫn luôn nhắc tôi không được làm Sa Thụy Kim phật ý.
Một buổi chiều nọ, khi đang ngồi nghịch điện thoại ở chỗ trực ban, tôi bất chợt nghe thấy giọng thầy hướng dẫn vang lên từ văn phòng của lãnh đạo ở phía đối diện. Tôi giật bắn cả người, cơn buồn ngủ lập tức tan biến.
Tôi vểnh tai lắng nghe, thì ra vẫn là chuyện xuất bản sách hồi năm ngoái. Cấp trên của tôi là một giảng viên phụ trách công việc hành chính, quản lý toàn bộ công việc trong viện nghiên cứu, bao gồm cả tài chính. Việc xuất bản sách được thực hiện thông qua dự án và quỹ của của viện, giờ xảy ra trục trặc nên ông ấy đang ở văn phòng đối diện bàn bạc cách xử lý.
Tôi còn nghe thấy giọng một người đàn ông khác, có vẻ là biên tập viên bên phía nhà xuất bản.
Thầy hướng dẫn rõ ràng vô cùng tức giận nhưng phải cố kìm nén. Tôi quá quen với giọng điệu này của ông ấy: “Chẳng lẽ pháp luật không có tính ràng buộc nữa sao? Lúc ký hợp đồng, đôi bên đã thống nhất là cuốn sách này không có vấn đề gì rồi mà?”
Người đàn ông kia đáp lại bằng một giọng đầy bất lực: “Thầy Trương, thầy nghe tôi nói đã… lúc đó là lúc đó…”
“Bên phía nhà xuất bản các anh đã duyệt hết rồi, sách cũng đã được thông qua rồi, sao bây giờ lại không xuất bản được?”
Người đàn ông kia chỉ thở dài mà không nói thêm lời nào.
Thầy tôi cố nén giận, giọng điệu chứa đầy sự hoang mang và cả phẫn nộ khi bị chơi khăm: “Cuốn sách bị trì hoãn suốt bao lâu nay, viện nghiên cứu đã chuyển cho nhà xuất bản các anh hai trăm nghìn tệ! Vậy mà cuối năm vừa rồi tôi vẫn phải trải qua đợt đánh giá! Đánh giá không qua, cá nhân tôi mất trắng hai trăm nghìn! Tiền này ai đền cho tôi?!”
Nói đến câu cuối, thầy tôi gần như hét lên.
Ông ấy xưa nay vẫn mắng chửi sinh viên như vậy. Tôi ngồi trong căn phòng đối diện mà còn thấy sợ, đồng thời cũng có chút cảm thông.
Lúc này, giọng nói dịu dàng của cấp trên tôi cất lên, xoa dịu bầu không khí đang căng như dây đàn: “Biên tập viên Dương, hay là thế này. Nếu cuốn sách có điểm nào không thể xuất bản được thì nhà xuất bản cứ đưa ra lý do rõ ràng. Thầy Trương có thể sửa lại mà.”
Biên tập viên họ Dương thở dài rồi nói một tràng, tóm gọn lại là dù có sửa cũng vô ích, cuốn sách này chắc chắn không thể xuất bản được nữa.
Thầy tôi có vẻ đã bình tĩnh lại phần nào. Sau khi nghe đối phương nói xong, ông ấy bèn hỏi rằng nếu hợp đồng bị hủy thì viện nghiên cứu có được hoàn tiền không. Kinh phí xuất bản được giải ngân theo đúng quy trình, nếu bên phía nhà xuất bản đơn phương không thực hiện hợp đồng thì ít nhất cũng phải hoàn trả toàn bộ kinh phí. Nhưng kết quả vẫn là không thể.
Nói cách khác, toàn bộ số tiền coi như mất trắng.
Nghe thấy tiếng thở dài não nề của thầy, tôi thấy lòng mình ngổn ngang trăm mối.
Đúng lúc này, ngoài hành lang bỗng vang lên tiếng nói của vài sinh viên, hình như là đang đi đến lớp. Người trong căn phòng đối diện cũng im bặt, họ đóng cửa nên tôi không nghe thấy gì nữa.
Nhưng chuyện đã như vậy rồi thì còn có thể tiếp diễn thế nào được? Cũng chỉ đến thế mà thôi.
Chỉ một hành động tùy ý của kẻ cầm quyền cũng đủ sức nghiền nát đám người thấp cổ bé họng chúng tôi.
Giấc mộng đẹp mà Sa Thụy Kim vẽ ra quả thực khiến cho người ta mê muội, nhưng bài học thê thảm của thầy tôi sờ sờ ngay trước mắt. Dù tôi có không cam lòng đến đâu thì cũng buộc phải tỉnh táo mà đối diện với hiện thực.
Tôi trách mình không đủ khôn ngoan để tự cứu mình thoát khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng, cũng không đủ ngu ngốc để vô tư dấn thân vào con đường sa ngã. Cuối cùng chỉ đành bước tiếp với sự tỉnh táo ấy, càng đi càng xa, càng đi càng lạc lối, cho đến khi không còn đường trở lại.
Không thể quay đầu được nữa. Tôi không dám đắc tội với Sa Thụy Kim, nhưng những lời hứa khi đó hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của ông nên chẳng có gì chắc chắn cả.
Tôi phải tự chuẩn bị lối thoát cho bản thân.
Tối hôm đó hiếm lắm mới có dịp ra ngoài dùng bữa với cô bạn cùng phòng, tôi không mang bất cứ thiết bị điện tử nào theo.
Trong bữa ăn, tôi hỏi cô ấy: “Thẻ của tôi hết sạch tiền, cậu mua giúp tôi vài thứ được không? Khi nào có lương tháng này tôi trả.”
Hơi nóng nghi ngút từ nồi lẩu khiến tầm nhìn mờ đi, che giấu nét mặt nặng nề của tôi khi ấy. Cô bạn cùng phòng chẳng nghĩ ngợi gì nhiều mà đáp ngay: “Được thôi, cậu muốn mua gì thế?”
“Camera siêu nhỏ và bút ghi âm.”
